20 March 2010

Lại Ngàn Năm Bắc Thuộc


Chúng ta không hy vọng gì ở những lãnh tụ trong trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền hiện nay chịu thay đổi, nếu không có những áp lực mạnh mẽ của toàn dân. Cũng có một số đảng viên trong guồng máy cầm quyền có tầm nhìn xa trông rộng, họ ủng hộ sự tranh đấu để biến cải. Nhưng họ chỉ chuyển động khi có sự đòi hỏi ở bên ngoài, mà họ không cưỡng lại được, hoặc khi cơn khủng hoảng tiến đến gần bạo động, và họ không tìm được cách nào khác để thay thế. Nếu nhà cầm quyền hiện nay không chịu tái cấu trúc ngay từ bây giờ, thì chỉ trong thời gian ngắn sắp tới, chắc chắn sức mạnh của toàn dân sẽ bạo động tràn xuống đường để chuyển sang dân chủ.

Phạm Văn Bản



Nhìn hãng xưởng Trung Quốc mọc lên khắp nơi trên đất nước Việt Nam, từ đội công nhân kỹ thuật, toán bảo vệ canh gác, các phương tiện sản xuất, hay bảng tên cầu đường đều là Bắc Thuộc. Hàng hoá Trung Quốc tràn ngập, phá giá thị trường và làm lũng đoạn nền kinh tế nước ta. Ô nhiễm Trung Quốc thải đầy sông nước, mùi hôi thối xông lên nồng nặc và hủy diệt môi sinh dân ta, gây nhiều biến chứng ung thư độc hại. Thể chế Trung Quốc lại được đảng Cộng Sản Việt Nam hôm nay tôn trọng tiếp nhận, làm khuôn mẫu toàn trị nhằm đàn áp bóc lột dân lành – chớ chúng ta chưa bàn tới những vụ hải đảo Hoàng Sa Trường Sa, hay đất đai biên giới đã mất, hoặc do những đảng viên đầu tỉnh ở Lạng Sơn, Quảng Ninh và nhiều nơi khác cho công ty xí nghiệp Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan thuê đất trồng rừng nguyên liệu – Pháp lệnh Trung Quốc, từ cao xuống thấp đều được truyền sang để cho chính quyền Việt Nam thi hành… Qua bằng chứng vừa kể, người viết trộm nghĩ đất nước mình đang tiến tới thảm họa diệt vong! Vậy hễ ai là con cháu Việt Nam, chúng ta nên tỉnh thức mà tạ tội với Tổ Tiên Dân Tộc vì chính mình đã không bảo vệ được di sản của tiền nhân, và thờ ơ phó mặc cho dân nước lâm cảnh lầm than, trở lại thời Ngàn Năm Bắc Thuộc cùng với chính sách mượn đất và đồng hóa đã phát xuất từ thời Hán Vũ Đế.

Theo sử sách, vào năm 111 trước dương lịch quân của Hán Vũ Đế xâm chiếm nước ta qua chính sách mượn đất, rồi sát nhập vào đế chế toàn trị của Trung Quốc theo kiểu tằm ăn dâu. Nhà Hán có tham vọng muốn chiếm Việt Nam để cai quản miền châu thổ Sông Hồng vì là hạ nguồn của giòng sông chảy xuống từ Trung Quốc, và là trọng điểm kinh tế làm hải cảng cho tàu bè giao thông buôn bán với các nước trong vùng Đông Nam Á. Ngoài ra Việt Nam còn là vị trí chiến lược quan trọng của các quốc gia nằm trên trục giao thông chạy dài từ hải cảng Vladivostok nước Nga, xuyên qua Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương, Ấn Độ và các nước hải đảo Thái Bình Dương, đến tận cùng là Úc Châu.

Vào dầu thế kỷ thứ nhất, các tướng Lạc Việt vẫn được giữ những chức vụ cai quản Lĩnh Nam, dù vùng này đã mượn đất bởi Trung Quốc. Sau đó Nhà Hán bắt đầu chính sách đồng hóa, bằng cách tăng thuế khóa và cải tổ luật hôn nhân, biến Việt Nam thành một xã hội phụ hệ như Trung Quốc. Mục đích Nhà Hán là đồng hóa dân tộc Việt Nam, để giáo dục người dân dễ dàng chấp nhận thể chế toàn trị của Trung Quốc. Đang khi dân tộc ta lại vẫn sống trong thể chế chính trị riêng, được gọi là định chế làng nước và theo xã hội mẫu hệ với nền dân chủ vốn có của ta.

Năm 39 sau dương lịch Trưng Nữ Vương đánh đuổi quân Đông Hán, cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Giao Chỉ rồi lan ra các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và toàn vùng Lĩnh Nam. Thái thú Tô Định bị đuổi về nước, Việt Nam giành lại nền độc lập tự chủ và Bà Trưng Trắc lên làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô tại Mê Linh (thuộc Hà Nội ngày nay). Chứng tích lịch sử này cho chúng ta thấy, hệ thống tổ chức chính trị và xã hội Việt Nam là lưỡng hệ, được xây dựng trên sự bình đẳng giữa Nam và Nữ. Đó là sự khác biệt đế chế toàn trị của Trung Quốc với định chế làng nước của chúng ta.

Sau đó, Nhà Hán cử danh tướng Phục Ba Mã Viện thống lãnh binh quyền sang đánh chiếm nước ta. Vì không đủ sức chống giặc cho nên Hai Bà đã tuẫn tiết trên giòng Hát Giang vào năm 43, để lại số phận dân nước chịu đắm chìm trong sự đô hộ và cai trị khắc nghiệt của Nhà Hán trong suốt ngàn năm, gọi là Bắc Thuộc. Dân ta lên rừng tìm ngà voi hoặc xuống biển mò ngọc trai mà cống nạp Thiên Triều. Điểm đặc biệt, gần một ngàn năm dưới ách thống trị của Trung Quốc, nhưng chính sách đồng hóa Việt tộc thành Hoa tộc đã thất bại. Bởi thế vào năm 938 Ngô Quyền khởi nghĩa và đánh bại quân Nam Hán tại Sông Bạch Đằng, giành lại quyền tự chủ cho Việt Nam, lên ngôi vua xưng là Ngô Vương, đóng đô ở Cổ Loa (thuộc Hà Nội ngày nay). Từ đó dân ta củng cố hệ thống tổ chức làng nước, phát triển dân số, bành trướng lãnh thổ xuống phương Nam.

Đầu năm Canh Dần vừa qua, đi lễ cầu cho quốc thái dân an người viết vừa bước vào thánh đường, thì đã thấy mọi người đang đứng nghe diễn văn chúc Tết của đảng ủy địa phương, trước khi linh mục chủ tế cử hành Thánh Lễ. Âm thanh lanh lảnh của người đọc nghe tợ giọng lên lớp của cán bộ quản giáo trại tù cải tạo thời sau năm 1975: “Mừng đảng mừng xuân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xã hội công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh…” và cứ thế thao thao bất tuyệt như lời Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm.” Sau 15 phút thinh lặng lắng nghe người viết phải chạnh lòng ngậm ngùi, vì đã quá muộn cho Việt Nam bước vào bình minh kỹ nghệ!

Mặt khác, đất nước ta cho dù đi theo sau ba trăm năm thời đại kỹ nghệ, nhưng nhà cầm quyền hiện nay lại chưa rút tỉa được kinh nghiệm giải quyết sự đối kháng nông nghiệp và kỹ nghệ đã từng xảy ra ở Châu Âu, hay Trung Quốc. Những cuộc tranh chấp đất đai đẫm máu giữa hai thành phần thương mại kỹ nghệ và nông dân chủ đất, do nhà cầm quyền tịch thu để xây dựng công ty xí nghiệp hay cho mượn đất. Hậu quả là đảng cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cũng xử dụng bạo lực công an cảnh sát, bộ đội dân phòng và côn đồ tòng phạm, đàn áp khối lương dân đòi bồi thường đất đai bị xâm chiếm, như những vụ Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm cùng nhiều nơi khác. Sự kiện đàn áp và chiếm đoạt đất đai này, đã làm cho quần chúng nhân dân mất hẳn niềm tin vào chính quyền. Mặt khác, nhà cầm quyền lại tố cáo mình dốt nát không tìm ra phương pháp giải quyết, tức đã thiếu tài chính trị trong việc làm kinh bang tế thế của người lãnh đạo.

Tuy có mở rộng kinh tế, nhưng hầu hết những cơ sở kinh tế, kỹ nghệ lại do đảng cầm quyền kiểm soát dưới nhiều hình thức. Các nguồn đầu tư hiện nay lại không có mục đích xây dựng và phát triển Việt Nam. Các công ty đầu tư cũng không tin tưởng vào chế độ chính trị của Việt Nam hiện nay, cho nên họ chỉ đầu tư ngắn hạn, với mục đích kiếm lời nhanh gọn. Mọi người đều ca thán và tin tưởng rằng chế độ Cộng Sản Việt Nam sắp xụp đổ. Chính những điều tâm lý này đã làm cho các ngân hàng không giải ngân trong việc cho vay tiền và dự án đầu tư trên đất liền đều gặp trở ngại.

Vài trung tâm kỹ nghệ được thành lập một cách vá víu tại những khu vực gần Sài Gòn hay Hải Phòng. Những cơ sở hạ tầng như cầu đường, điện nước… tuy có cải tiến, có đường cao tốc, có mương xây thoát nước, nhưng chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu kỹ nghệ tiêu dùng. Các giới chức vì thiếu khả năng nhìn xa trông rộng, cộng thêm những vụ tham nhũng tày trời… cho nên những cơ sở kỹ nghệ mới đều là máy móc cũ kỹ lỗi thời, tức đồ phế thải của các nước kỹ nghệ mang sang Việt Nam để sản xuất.

Xét về guồng máy tài chánh của Việt Nam tuy có canh cải, nhưng vẫn còn những hệ thống quản trị điều hành thô sơ, do tình trạng nhân viên lạc hậu của đảng điều hành. Chính quyền chỉ bắt chước những cải cách của các nước Cộng Sản như Trung Quốc, Cuba… mà các nước này cũng không thành công, cho nên những số nợ cũ lại chồng chất thêm số nợ mới. Ngân sách quốc gia Việt Nam hiện nay chỉ nhờ vào số thu của các mỏ dầu hỏa, và tiền của những người tỵ nạn ở hải ngoại gởi về.

Xét về sức mạnh của một quốc gia, thì phải nói đến dân tình đối với chính phủ và có trách nhiệm đối với đất nước. Nhưng trước mắt, dân chúng Việt Nam lại đang oán ghét chính quyền qua những vụ nhượng đất nhượng biển cho Trung Quốc. Vũ khí, quân sự quốc phòng lại lỗi thời, vô hiệu hóa và chỉ còn đủ sức đàn áp vài anh chị sinh viên biểu tình đòi hỏi thực thi nhân quyền tự do dân chủ, hoặc vài ông bà nông dân đòi bồi thường đất đai canh tác sao cho công bằng và hữu lý. Nếu chúng ta so sánh với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á, thì Việt Nam lại chỉ là miếng đất để cho tư bản nước ngoài khai thác với số nhân công rẻ mạt. Đang khi lớp người lãnh đạo lại sẵn sàng bán bất cứ thứ gì có thể vơ vét, nhằm mang tiền ra nước ngoài hay cho con cháu du học và chờ ngày đào thoát.

Xét về dân số tử đầu tới cuối thế kỷ 20 Việt Nam tăng gấp 5 lần. Dân số hiện nay tăng nhanh tới mức cả trên trăm triệu người, nhưng chính quyền công bố năm 2009 là 85,789.600 người vì không có khả năng thống kê chính xác, chỉ căn cứ theo sổ hộ khẩu đang khi có nhiều gia đình không được nhập khẩu. Mức phát triển kinh tế hiện nay của quốc gia vẫn chưa đủ cung ứng cho những lớp người trẻ Việt Nam. Tuy có tuyên truyền rầm rộ về giảm dân số bằng kế hoạch hóa gia đình, nhưng chính phủ lại không thực thi được chương trình giáo dục người dân tuân theo, do đó dân số gia tăng. Cha mẹ không có phương tiện để nuôi con, lại sinh con nhiều. Sinh nhiều mà thiếu dinh dưỡng, thiếu vệ sinh, thiếu giáo dục thì các thế hệ trẻ Việt Nam không thể phát triển đúng theo thời đại kỹ nghệ hiện nay.

Xét về nông nghiệp và nông dân Việt Nam vừa được tư hữu hóa sau 20 năm đổi mới tới nay, nhưng với diện tích canh tác của mỗi đầu người lại quá nhỏ, cộng với chính sách độc tài chính trị của nhà nước, cho nên xã hội nông nghiệp sinh ra tầng lớp đầu cơ trích trữ, làm tăng giá phân bón, thuốc diệt trừ chuột bọ sâu rày… làm giảm giá lúa thị trường bằng cách cho chậm xuất khẩu nhằm mục đích kiếm lời. Vì chính quyền không tìm ra phương cách nâng cao đời sống nông thôn, cho nên dù có cấy lúa IR 50404, OM 4900 hay OMCS 2000 để đạt tới mức thu hoạch 7, 8 chục giạ/ công tầm cắt, thì nông dân vẫn không đủ sống. Hầu hết các làng thôn rất ít được tu bổ, ngoài cái loa phóng thanh của nhà nước là vui, được đặt bên cạnh cột đèn với vài chiếc bóng mù mờ leo loét, và con đường làng xi măng do dân tự tạo. Có nghĩa là nhà cửa dân làng vẫn sơ xác điêu tàn và đời sống vẫn mãi cùng cực như xưa. Chưa kể đến những miền quê nghèo nàn trong vùng cát trắng của miền Trung Việt Nam, người nông dân không trồng cấy được gì ngoài vài cây bạch đàn cằn cỗi mong thu hoạch để biến chế giấy gỗ.

Theo bộ kế hoạch đầu tư của Việt Nam, từ khi các nhà tài trợ quốc tế khởi động chương trình yểm trợ phát triển, cho Việt Nam vay nợ ODA (Official Development Assistance) năm 1993 đến nay là 22 tỷ Mỹ Kim được giải ngân, tổng số 42.5 tỷ Mỹ Kim vốn cho vay. Nếu tính thêm số ODA vừa được hứa sẽ giải ngân gần 50% trong năm 2010 này, Việt Nam chúng ta sẽ nợ vào khoảng 26 tỷ Mỹ Kim. Tạm lấy số ODA cam kết trong ba năm qua, số thực chi 11.070 tỷ Mỹ Kim, trong đó viện trợ không hoàn lại chỉ có 0.927 tỷ Mỹ Kim, số còn lại là nợ phải trả đã vay trong ba năm qua lên đến 10.143 tỷ Mỹ Kim.

Mặt khác, hệ thống tài chánh thế giới đang nằm trong tay số nhà tài phiệt quốc tế, công ty liên quốc. Giá trị đồng tiền mà chúng ta đang xử dụng cũng không là giá trị thực, mà do sắp xếp của hệ thống tài chánh thế giới. Bởi thế, nhà chính quyền Việt Nam hôm nay mà không có khả năng để tự nuôi sống mình, lại đi vay nợ ODA như người viết kể trên, thì số nợ này càng ngày càng chồng chất. Việc trả nợ từ thế hệ này sang thế hệ con cháu tiếp nối, sẽ làm cho Dân Tộc Việt Nam khó thoát ách nô lệ ODA do Cộng Sản mà ra.

Hình thức xâm lăng hay đô hộ quốc gia nhược tiểu ngày nay, đã được các đế quốc chú trọng về kinh tế tài chánh, khoa học kỹ thuật, và môi trường an sinh, chớ không đơn thuần là chiến tranh quân sự như khi xưa. Bởi thế việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ cũng thay đổi, trở thành một loại chiến tranh không đổ máu. Và nước nào không canh tân cải tiến, không sản xuất hàng hóa kịp thời thì nước ấy sẽ biến thành quốc gia tiêu thụ, đồng thời mang dạng xuất khẩu công nhân tại chỗ. Có nghĩa là người dân nước ấy phải đi làm thuê làm mướn cho nước khác, mà không cần lìa xa gia đình và quê hương mình. Toàn dân biến thành nô lệ tân thời trong sự thống trị về kinh tế, kỹ thuật, tài chánh của cường quốc kỹ nghệ.

Thế giới đang phải đương đầu với nhiều vấn đề trọng đại của con người, một trong những điều đó là môi trường sinh sống, tức môi sinh con người và sinh vật thảo mộc trên địa cầu. Vì những chất phế thải của kỹ nghệ đã tiêu diệt các động vật và thực vật, làm thủng màn khí quyển ozone, tạo cho tia cực tím mặt trời rọi xuống mặt đất làm tăng nhiệt độ địa cầu, làm thay đổi khí hậu thời tiết và gây ra bão tố lụt lội hay hạn hán. Những quốc gia kỹ nghệ đã bị tàn phá môi sinh, cho nên họ cần chuyển thiết bị máy móc kỹ nghệ tới quốc gia chậm tiến, như Việt Nam để xây dựng xí nghiệp sản xuất.

Hơn nữa cường quốc kỹ nghệ đã tiến đến nền kỹ thuật cao nhờ sự liên lạc tối tân, và kỹ thuật cao lại làm mềm mỏng biên giới của các quốc gia trên thế giới. Đang khi trong nước họ, phải giải quyết những yêu cầu cải cách kinh tế do dân chúng đòi hỏi. Bởi thế họ loại bỏ những xí nghiệp cũ để tân trang xí nghiệp mới, và cơ sở máy móc dụng cụ cũ lại được chuyển sang quốc gia chậm tiến để sản xuất, là “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” trong lời ca tụng của đảng ủy Cộng Sản Việt Nam của diễn văn chúc Tết vừa qua.

Ngoài vấn đề công nhân rẻ, các cường quốc kỹ nghệ lại tránh hủy hoại môi sinh cho đất nước và dân tộc họ. Bởi thế, hình thức xâm lăng cũ thì dân tộc Việt Nam còn có cơ hội vùng lên chiến đấu giành lại. Nhưng hình thức xâm lược mới này thì dân tộc ta lại vô phương giải cứu, cho tới khi những phóng xạ nguyên tử, hay chất độc hóa liệu phế thải đã hủy diệt sinh vật và thảo mộc trên quê hương này, biến miền đất phì nhiêu rừng vàng biển bạc của Việt Nam trở thành vùng đất chết, họa diệt vong lúc ấy xuất hiện thì đã quá muộn, vì còn đâu là “mừng đảng mừng xuân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xã hội công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh?”

Việt Nam chúng ta tiến sau các nước kỹ nghệ phương Tây ba thế kỷ, nên nước ta thiếu thốn rất nhiều nhân tài ở các lãnh vực lãnh đạo, điều hành và quản trị. Thời đại kỹ nghệ quốc gia Âu Mỹ có nhiều nhà máy, việc sản xuất hàng loạt vật dụng có đủ hay dư thừa, và tạo ra tâm lý dư thừa trong dân chúng. Người dân luôn cảm thầy dư thừa, không cần bon chen hay đầu cơ tích trữ. Chính nhờ tâm lý dư thừa mà các sinh họat xã hội kinh tế, chính trị được phát triển trong vòng ổn định, điều hoà, thịnh vượng.

Ngược lại, nước ta vốn có tâm lý tiết kiệm, vì thiếu thốn nên chính phủ phải kêu gọi dân chúng tiết kiệm. Tham nhũng là do tâm lý thiếu thốn mà ra. Khi người Pháp chiếm nước ta, thì dân tộc ta cũng đang sống trong thời đại nông nghiệp, và rồi cái xã hội nông nghiệp đó đã kéo dài cho tới hôm nay, với cơ cấu tổ chức hàng dọc một chiều từ trên xuống dưới. Cho nên nước ta thiếu những người có khả năng lãnh đạo, quản trị, điều hành chính quyền trong thời đại kỹ nghệ.

Thực tại xã hội Việt Nam cũng chia các hoạt động kỹ nghệ (hay công nghiệp) thành ba cấp:
- Kỹ nghệ sơ cấp gồm các lãnh vực sản xuất của thời nông nghiệp vừa qua là nông – lâm – ngư đang được cơ giới hóa. Ví dụ, xe gặt lúa ở đồng bằng Sông Cửu Long cũng đang thay thế cho hình ảnh thợ gặt với cái liềm hay lưỡi hái.
- Kỹ nghệ thứ cấp, ngành kỹ nghệ nặng như luyện thép, đúc nhôm, chế tạo xi măng, khai thác hóa chất từ dầu hỏa, sản xuất xe hơi, sản xuất máy móc gia dụng…
- Kỹ nghệ đệ tam cấp gồm các dịch vụ tài chánh, bảo hiểm, cung cấp nước, hơi đốt, điện, chuyên chở hàng hải, hàng không, nguyên tử năng, không gian… cũng bắt đầu phát triển.

Kỹ nghệ là dùng máy móc thay cho sức lao động của con người và súc vật, sản xuất hàng loạt các sản phẩm theo hệ thống giây chuyền. Muốn kỹ nghệ hóa, trước hết phải có máy móc, do đó các nước kỹ nghệ đã mọc lên những nhà luyện thép, xưởng máy, sản xuất xe, xưởng dệt, đường rày và biến chế thực phẩm. Nhờ kỹ thuật cao, biến các thị trấn thành đại đô thị và vận tốc di chuyển được tăng nhanh, đường xá cầu cống được mở rộng. Hình thức sản xuất càng ngày càng tăng số lượng nhiều, giá thành càng giảm, sản phẩm mới xuất hiện càng liên tục đã làm cho mọi người cái tâm lý thích tiêu thụ. Tiêu thụ không còn là nhu cầu, mà trở thành thú tiêu khiển.

Sinh hoạt xã hội cũng được kỹ nghệ hóa trở thành đa dạng. Văn hóa giáo dục cũng biến thành kỹ nghệ giáo dục, kỹ nghệ truyền thông, kỹ nghệ báo chí… Tóm lại đất đai, sức lao động, nguyên liệu và vốn là những yếu tố chính để phát triển kinh tế. Vào thời kỹ nghệ, sức mạnh bắp thịt của lao động càng ngày càng giảm, đang khi sản xuất vật dụng do máy móc làm ra, càng ngày càng tăng càng nhiều, số công nhân lao động chân tay bị giảm bớt và ít cần thiết. Đến khi tiến tới thời hậu kỹ nghệ, vì phát minh ra nhiều phương tiện thông tin liên lạc, vận tốc di chuyển tiện lợi nhanh chóng, giá thành hạ rẻ… cho nên các quốc gia trên thế giới đã có những mối liên quan mới phát sinh. Những quan hệ quốc tế lại tạo ra nền chính trị hậu quốc gia hay quyền lực quốc tế.

Mỗi ngành, mỗi lãnh vực xã hội lại phát triển và tạo thêm hệ thống cấp quốc gia hay quốc tế, bởi đó các ngành có quyền lực riêng, đôi khi quốc gia cũng khó kiểm soát được hoàn toàn. Cho nên quyền lực phân tản ra nhiều ban trách nhiệm, nhiều cấp trách nhiệm. Nhân sự làm việc công khai, tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, với dân chúng được nhiều người biết tới. Đang khi những nhân viên có đầu óc suy tư tính toán, lại làm việc trong hậu trường thầm lặng. Bởi thế mà có những ban quản trị, ban điều hành, ban nghiên cứu, ban kiểm soát… để cải tiến sản phẩm, và cạnh tranh với công ty xí nghiệp khác.

Do chiều hướng suy tư của giới lãnh đạo, quản trị điều hành luôn luôn thay đổi để tạo ra sản phẩm mới hơn, tốt hơn, và sự kiện này đã dẫn tới thịnh vượng cho xã hội. Hàng tháng, các công ty thường thay đổi quảng cáo, quảng cáo sau hay hơn, hấp dẫn và mang tính quốc tế toàn cầu hơn quảng cáo trước. Trải qua nhiều kết hợp hệ thống, thời đại kỹ nghệ đã tạo ra đa sản xuất, đa tiêu thụ, đa giáo dục, đa truyền thông… Sự nối kết đó tạo ra những cơ quan gọi là trường đại học, công ty, đảng chính trị.

Xã hội kỹ nghệ đã tạo ra hệ thống sản xuất giây chuyền, và hệ thống máy móc của xí nghiệp cũng là giây chuyền. Các cơ cấu xã hội, chính trị quốc gia trong thời đại nông nghiệp lại được biến cải thành hệ thống rộng rãi hơn, phức tạp và khoa học hơn. Do đó con người lại bị ràng buộc bởi các hệ thống tổ chức. Và xã hội càng văn minh, thì con người lại càng bị ràng buộc trong nhiều hệ thống từ kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo… cho tới chính trị, quân sự quốc phòng. Vì bị ràng buộc trong hệ thống tổ chức, con người ta bắt đầu đòi hỏi kẻ lãnh đạo quản trị điều hành của mình phải có đức tính liên thuộc, phải có tầm nhìn và tìm biện pháp giải quyết đúng đắn về những vấn đề phức tạp xã hội. Vì rằng quyết định của cơ quan này sẽ ảnh hưởng giây chuyền tới sự sống chết của các cơ quan khác, các hệ thống khác. Những cách tìm giải pháp và quyết định của các hệ thống xã hội phải mang ý thức trách nhiệm liên đới, được gọi là dân chủ.

Thời đại của chúng ta hôm nay là thời đại dân chủ và giá trị thời đại sẽ định hướng phát triển xã hội con người tương lai. Không ai có thể bắt lịch sử dừng lại, không ai có thể lãnh đạo quốc gia, phát triển xã hội với những giá trị lỗi thời, hoặc phủ nhận hay từ chối giá trị chung của nhân loại. Do đó các thanh niên ưu tú, các chính trị gia tương lai của Việt Nam cần nhắm vào bảng giá trị thời đại như là tiêu điểm mang ấm no, hạnh phúc, thịnh vượng cho dân tộc ta và đưa đất nước theo kịp tiến trình chung của nhân loại. Thời gian qua nhanh, lịch sử sẽ không dừng lại. Những ai còn ưu tư, đau xót cho quốc gia dân tộc Việt Nam, hãy lên đường, hãy nhắm vào giá trị thời đại để bắt kịp thời đại, hầu dẫn dắt dân tộc ta thoát cảnh đói nghèo và chậm tiến như hiện nay.

Tóm lại, con đường cứu nước Việt Nam ngày nay hữu hiệu nhất vẫn là con đường chính trị dân chủ, và người làm chính trị được gọi là chính trị gia. Ước mong bạn trở thành chính trị gia đúng nghĩa trong thời đại ngày nay của người Việt Nam. Vì bạn là một trong những người đang có tình cảm chính trị, và cần có lý trí chính trị, để tạo ra sản phẩm chính trị, mà giúp cho dân nước hưởng nhờ. Do đó bạn cần thay đổi tận nền tảng thể chế chính trị độc tài, lạc hậu hiện nay thì mới mong làm cho dân nước giàu mạnh, sống hòa bình trong cộng đồng thế giới.

Chúng ta không hy vọng gì ở những lãnh tụ trong trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền hiện nay chịu thay đổi, nếu không có những áp lực mạnh mẽ của toàn dân. Cũng có một số đảng viên trong guồng máy cầm quyền có tầm nhìn xa trông rộng, họ ủng hộ sự tranh đấu để biến cải. Nhưng họ chỉ chuyển động khi có sự đòi hỏi ở bên ngoài, mà họ không cưỡng lại được, hoặc khi cơn khủng hoảng tiến đến gần bạo động, và họ không tìm được cách nào khác để thay thế. Nếu nhà cầm quyền hiện nay không chịu tái cấu trúc ngay từ bây giờ, thì chỉ trong thời gian ngắn sắp tới, chắc chắn sức mạnh của toàn dân sẽ bạo động tràn xuống đường để chuyển sang dân chủ.

Noi gương Tổ Tiên cách mạng oai hùng đã từng làm vẻ vang nòi giống, chúng ta ngày nay có sứ mạng sáng tạo hành động để thành công trong đại cuộc cứu nước thoát ách nô lệ ngàn năm Bắc Thuộc, và xây dựng lại quốc gia Việt Nam.


Phạm Văn Bản


Không thể trông chờ gì vào đại hội 11


Sự lệ thuộc hèn hạ vào Trung Quốc đến mức khó hiểu của tập đoàn lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam khiến người dân bình thường cũng lo sợ nghĩ tới một hiểm họa bắc thuộc đã cận kề. Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm nhà nước Việt Nam không dám lên tiếng để đòi lạị. Việc ngang nhiên vẽ đường biên giới lưỡi bò nhằm chiếm trọn biển Đông của Trung Quốc làm cho người dân Việt Nam ở cạnh biển mà như không có biển. Trong khi tàu Trung Quốc bắt cóc ngư dân đòi tiền chuộc, đâm chìm tầu đánh cá trên vùng biển của Việt Nam thì ở đâu đó các nhà lãnh đạo đảng, nhà nước vẫn đang say sưa nâng cốc chúc tụng về “4 tốt”, “16 chữ vàng”. Báo chí Việt Nam nêu sự thật về hàng Trung Quốc độc hại thì lãnh đạo Việt Nam bị lãnh đạo Trung Quốc nhắc nhở.

TRẦN HOÀNG LAN



Chỉ còn khoảng 10 tháng nữa lại diễn ra một sự kiện chính trị trọng đại của đất nước đó là đại hội toàn quốc đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 11. Nói rằng đây là một sự kiện trọng đại bởi sau đại hội này sẽ bầu ra một ban chấp hành trung ương gồm những người giữ tất cả các cương vị quan trọng trong bộ máy đảng, chính quyền từ trung ương tới cấp tỉnh. Bầu ra một bộ chính trị gồm 15 người nắm tất cả các vị trí chủ chốt của trung ương đảng, nhà nước. Cạnh vấn đề nhân sự đại hội còn có cả một nghị quyết đặt đường hướng cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Theo như lời tổng bí thư Nông Đức Mạnh “Đại hội XI của Đảng sắp tới sẽ có nhiệm vụ tổng kết đánh giá việc thực hiện chiến lược 10 năm 2001 – 2010 do Đại hội Đảng IX đề ra và quyết định chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020”. Cũng như những đại hội trước dự kiến sự kiện trọng đại này sẽ được báo chí truyền thông nhà nước, báo chí ngoài luồng loan tải tới với mật độ ngày càng nhiều nhất là trong những ngày cận kề đại hội. Chuẩn bị cho đại hội 11, theo lịch trình từ nay đến cuối năm các chi bộ, đảng bộ các cấp từ thấp đến cao sẽ tiến hành đại hội để ban thảo nghị quyết, để lựa chọn, bầu bán nhân sự, cử đại biểu đi dự hội nghị đảng bộ cấp cao hơn. Khác với đại hội 10 đến tận giờ “màn trình diễn” công bố dự thảo nghị quyết để toàn dân đóng góp tận giờ vẫn chưa được ra mắt. Đã có một số bài báo ngoài luồng dự đoán nhân sự của đại hội 11. Như “ai sẽ là tổng bí thư sau đại hội 11” hay “Mạnh, Triết sẽ ra đi sau đại hội 11”,…Những bài báo này đã phân tích, tổng hợp, đưa ra các dẫn chứng sự kiện để dự đoán tương đối thuyết phục độc giả. Tuy nhiên điều mà dư luận trong, ngoài nước quan tâm nhiều nhất là sau đại hội 11 có những gì là mới . Về cải cách chính trị, về chống tham nhũng,về thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo, về kinh tế, về chủ quyền của đất nước,….

Việc thông báo tổ chức đại hội đảng lần thứ 11 tổ chức vào quí đầu của năm 2011 đã gián tiếp khẳng định: nếu không có gì thay đổi đảng cộng sản tiếp tục thực thi điều 4 hiến pháp, duy trì chế độ độc đảng thêm ít nhất là một nhiệm kỳ 5 năm nữa. Tất nhiên các đảng viên có quyền có chức và nhất là bộ chính trị đều mong muốn duy trì mô hình này càng lâu càng tốt. Bởi mô hình này là “bảo hiểm tin cậy nhất” cho các tài sản kếch xù của họ ở trong nước cũng như ngoài nước. Mô hình này cũng giúp cho họ “làm giàu” nhanh chóng. Như vậy mọi cải cách chính trị có chăng sau đại hội 11 chỉ là những cải cách để duy trì, kéo dài thời gian hấp hối của chế độ độc tài thêm được ngày nào hay ngày ấy. Cũng có thời điểm đảng, nhà nước Việt Nam tỏ vẻ như muốn cải cách chính trị, mở rộng tự do dân chủ. Đó là khi họ muốn được xóa tên khỏi danh sách các nước cản trở tự do tôn giáo, muốn được kết nạp vào WTO, muốn được bầu là thành viên không thường trực của hội đồng bảo an liên hiệp quốc. Nhưng khi đã đạt được các mục đích trên họ đã nhanh chóng trở mặt tăng cường đàn áp những tiếng nói tiến bộ đấu tranh cho tự do, dân chủ đàn áp tôn giáo. Tuy phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ bị đàn áp, gặp khó khăn nhưng chính điều đó lại giúp cho những người còn mơ hồ, hy vọng về một sự thay đổi tiến bộ của nhà nước cộng sản thấy rõ bản chất của nhà nước cộng sản là tráo trở, lật lọng, không thể biến cải. Dù ngoài miệng luôn hô hào “kiên định với đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội” nhưng thực tế họ đã trở thành tầng lớp tư bản đỏ cấu kết với các tư bản nước ngoài bóc lột nhân dân trong nước. Khẩu hiệu “kiên định với đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội” của họ thực chất chỉ là một khẳng định kiên quyết duy trì chế độ độc tài, độc đảng. Người ta lại hy vọng vào đội ngũ lãnh đạo mới sau đại hội 11. Xin hãy thử điểm qua các gương mặt “sáng giá” ở các cấp trung ương và địa phương. Những gương mặt mà được dư luận dự đoán nhiều khả năng sẽ là tổng bí thư vào khóa tới thì thường là đều hội đủ cả hai điều kiện bất tài, dính líu tới tham nhũng và đều có chung một “ưu điểm” là “giỏi tung hô tình hữu nghị Việt-Trung”. Lãnh đạo ở các tỉnh, lực lượng cán bộ nguồn cung cấp cho trung ương thì đều là những “tên tuổi nổi tiếng”được nhiều người biết tới. Địa đầu tổ quốc có phó bí thư tỉnh uỷ kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân Nguyễn Trường Tộ. Miền trung thì có bí thư Hồ Xuân Mãn, Nguyễn Bá Thanh. Các tỉnh dọc biên giới thì có các bí thư, chủ tịch bán rừng đầu nguồn cho nước ngoài với thời hạn 50 năm. “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” thì có ngài bí thư Lê Thanh Hải dính líu tới vụ PCI mà giờ vẫn “vững như bàn thạch” vì có chân trong bộ chính trị….Đội ngũ đảng viên trẻ được kết nạp trong những năm gần đây tuy chẳng còn tin vào chủ nghĩa cộng sản nhưng họ vẫn cứ vào đảng theo phong trào, vào đảng với mong muốn được đề bạt, cất nhắc làm cán bộ để hưởng lợi.

Mối quan hệ với đảng cộng sản Trung Quốc cũng là một yếu tố tác động tới cải cách chính trị. Từ khi giành được chính quyền vào tháng 8/1945 đến nay đảng cộng sản Việt Nam luôn là “cái bóng” của đảng cộng sản Trung Quốc theo đúng nghĩa đen là Trung Quốc làm gì thì Việt Nam làm theo như thế. Việc tự nguyện, rồi bắt buộc phải làm “cái bóng” của Trung Quốc xuất phát từ việc cả hai đảng đều có cùng một ý thức hệ cộng sản. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc đảng cộng sản Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình nhưng không hề vô tư của Trung Quốc từ vũ khí đạn dược, thuốc men, gạo, thực phẩm và cả người. Đổi lại Việt Nam đã phải nhập các chủ trương chính sách của Trung Quốc mặc dù đó là những chính sách sai lầm, thậm chí cả những tội ác diệt chủng. Phải ngậm đắng nuốt cay, nhắm mắt làm ngơ trước những hành động cướp đất, cướp biển. Những chính sách hợp tác hóa nông nghiệp, chủ trương “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, cải cách ruộng đất giết oan hàng vạn người đều được dập khuôn từ Trung Quốc. Sau chiến thắng Điện Biên lẽ ra đất nước đã được thống nhất nhưng hiệp định Giơnevo mà Việt Nam ký dưới áp lực của Liên Xô và Trung Quốc lại chia đôi đất nước. “Cái bóng” Việt Nam lại tự nguyện làm tên lính xung kích cho phe công sản giết hại những người anh em ruột thịt của mình. Năm 1958 vì ngây thơ tin vào “tinh thần quốc tế vô sản” ông Đồng đã không ngần ngại tuyên bố Hoàng Sa là của Trung Quốc qua công hàm gửi cho Chu Ân Lai. Sau khi Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu tan rã để tránh khỏi sụp đổ Đảng cộng sản Việt Nam lại một lần nữa cầu cạnh Bắc Kinh với mong muốn làm một chư hầu và lại một lần nữa tình nguyện là “cái bóng”. Khuôn mặt của “cái bóng” lần này ngoài những nét cũ còn có thêm những nét hèn hạ, bạc nhược đến kỳ lạ mà từ trước tới nay chưa một triều đại nào trong lịch sử của Việt Nam có được. Một nhà đấu tranh cho dân chủ ở Trung Quốc đã nhận định “Việt Nam sẽ thay đổi nếu Trung Quốc thay đổi”. Nhân định đó nói lên sự phụ thuộc hoàn toàn về chính trị của tập đoàn cộng sản Việt Nam vào đảng cộng sản Trung Quốc. Hiển nhiên Trung Quốc không cải cách chính trị thì ở Việt Nam cũng không và nếu cố tình cải cách sẽ vấp phải cản trở rất mạnh mẽ từ phía Trung Quốc. Thái độ của Trung Quốc trên trường quốc tế trong những năm gần đây cho thấy họ vẫn muốn duy trì chế độ độc tài chưa hề muốn cải cách chính trị.

Nạn tham nhũng thì bất kỳ chế độ nào cũng có nhưng dưới chế độ độc tài, độc đảng nó trở thành phổ biến và không thể dẹp nổi. Biết như vậy nhưng để lừa bịp người dân ba từ “chống tham nhũng” luôn được xuất hiện với số lần nhiều nhất trong bất kỳ một nghị quyết nào của đảng. Cảm thấy chưa yên tâm trong việc xác định tầm quan trọng của nó người ta còn gọi nó là “quốc nạn”, là “giặc nội xâm”, là “chống tham nhũng là bảo vệ sự sống còn của đảng”và v.v…Cứ căn cứ vào câu nói và lời viết có thể khẳng định rằng đảng, nhà nước đã ưu tiên số 1 cho “công cuộc chống tham nhũng trên các nghị quyết”. Nhưng thực tế, hầu hết các vụ án tham nhũng đều có thủ phạm là cán bộ đảng viên, tham nhũng càng lớn thì thủ phạm là cán bộ càng to. Nên nếu chống tham nhũng thực sự thì khác nào đảng tự chặt chân tay, chặt đầu của mình. Quyết tâm chống tham nhũng đã không có mà nếu có với chế độ độc tài, đảng kiêm cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, bịt miệng báo chí, bịt miệng người dân thì chống tham nhũng không thể có hiệu quả và chỉ là để lừa phỉnh, xoa dịu. Diễn biến về các vụ án nổi tiếng PMU18, PCI, in tiền polime,… đã cho thấy cả “quyết tâm” cũng như “thành quả” công cuộc chống tham nhũng của đảng và nhà nước thu được trong những năm gần đây. Ngay cả các nhân vật chủ chốt của bộ chính trị cũng phải than thở, tự nhận “cơ chế ở Việt Nam đẻ ra nạn tham nhũng”, “đành phải noi gương ông Đồng là 30 năm chưa kỷ luật một ai”. Đây phải chăng là lời thú nhận sự bất lực, hay là việc “bật đèn xanh” cho các “đồng chí chưa bị lộ” cứ tiếp tục tham nhũng. Bởi vậy sau đại hội 11 quốc nạn tham nhũng chẳng những không giảm mà còn tăng hơn về số lượng, về mức độ tinh vi, xảo quyệt. Hậu quả là phân hóa giầu nghèo ngày càng tăng, tài nguyên suy kiệt, nợ nần chồng chất và đến đời con cháu cũng chưa chắc đã trả hết.

Những hành động bắt bớ những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, những người bất đồng chính kiến, đàn áp tôn giáo trước đại hội 11 ngày càng gia tăng, một mặt là các “màn thi thố tài năng”, “gây thanh thế” để giành “ghế” trong đại hội 11. Mặt khác nó cũng cho thấy “tôn chỉ ”và “gót chân Asin” của những nhà lãnh đạo hiện tại và tương lai của đảng. Đó là họ luôn lấy trấn áp để tồn tại, sợ sự thật, sợ tự do dân chủ, sợ tự do tôn giáo. Mơ ước đảng, nhà nước sẽ mở rộng quyền tự do cho người dân sau đại hội 11 của ai đó quả là ngây thơ và hão huyền.

Dự đoán bức tranh kinh tế Việt Nam sau đại hội 11 càng ảm đạm hơn nữa. Lạm phát phi mã, kinh tế tăng trưởng chủ yếu do xuất khẩu tài nguyên thô, xuất khẩu lao động, đầu tư của nước ngoài. Từ việc bán bauxite ở Tây Nguyên là chủ trương lớn của trung ương, bán rừng đầu nguồn là chủ trương lớn của các tỉnh, đến việc bán phụ nữ trẻ em ra nước ngoài làm nô lệ, bán nhân công ra nước ngoài trồng cần sa đảng và nhà nước đã hoàn toàn giống như một kẻ bị vỡ nợ bán tống bán tháo tất cả thứ gì có thể bán được. Danh hiệu “con rồng châu á”mà những năm nào các nhà đầu tư nước ngoài tặng cho Việt Nam nhằm đổi lấy những dự án đầu tư có nhân công rẻ mạt, ít tốn kém khắc phục môi trường giờ đây cũng ít được nhắc tới. Trừ một số ít, đa số những người dân được hưởng thành quả của tăng trưởng kinh tế giống như nhân vật có miếng da lừa trong truyện “Miếng da lừa” của Ban dắc. Mỗi một phần trăm tăng trưởng đi kèm với biết bao tài nguyên thiên nhiên mất đi, bao cánh rừng dòng sông bị hủy hoại, bao làng quê, thành phố môi trường ô nhiễm nặng nề, bao bệnh tật hiểm nghèo rình rập người dân. Những thế hệ sau sẽ nhận được những gì từ cha ông chúng. Một đất nước tiêu điều, tài nguyên cạn kiệt, nợ nước ngoài chồng chất. Kinh tế tăng trưởng kẻ được hưởng lợi nhiều nhất là tầng lớp “tư bản đỏ”người chịu thiệt thòi nhất là những người lao động, những người nghèo.

Sự lệ thuộc hèn hạ vào Trung Quốc đến mức khó hiểu của tập đoàn lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam khiến người dân bình thường cũng lo sợ nghĩ tới một hiểm họa bắc thuộc đã cận kề. Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm nhà nước Việt Nam không dám lên tiếng để đòi lạị. Việc ngang nhiên vẽ đường biên giới lưỡi bò nhằm chiếm trọn biển Đông của Trung Quốc làm cho người dân Việt Nam ở cạnh biển mà như không có biển. Trong khi tàu Trung Quốc bắt cóc ngư dân đòi tiền chuộc, đâm chìm tầu đánh cá trên vùng biển của Việt Nam thì ở đâu đó các nhà lãnh đạo đảng, nhà nước vẫn đang say sưa nâng cốc chúc tụng về “4 tốt”, “16 chữ vàng”. Báo chí Việt Nam nêu sự thật về hàng Trung Quốc độc hại thì lãnh đạo Việt Nam bị lãnh đạo Trung Quốc nhắc nhở. Những lời lẽ đe nẹt, ngạo mạn của đại sứ Tôn Quốc Tường trong cuộc họp báo giữa kinh thành Thăng Long là mối nhục và nếu có liêm sỉ thì tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam phải thấm thía nỗi nhục này hơn ai hết. Việc Trung Quốc can thiệp vào nhân sự của đại hội 11 sẽ tạo ra một guồng máy mới của lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam là tay sai đắc lực hơn để phục vụ cho chủ trương hán hóa của họ. Không có thay đổi, Việt Nam trở thành một Tây Tạng thứ hai là điều không thể tránh khỏi.

Đại hội 11 là một sự kiện trọng đại nhưng hầu như mọi người dân Việt Nam, ngay cả các đảng viên cũng chẳng hề quan tâm vì họ biết đây chỉ là “tấn tuồng” diễn lại những “tích cũ”mà trước lần diễn có thêm bớt chút ít để khán giả lầm tưởng là “tích mới”. Thực ra điều duy nhất gọi là mới mẻ sau đại hội 11 đó là “tấn tuồng diễn lại” này có “đào kép” mới, có đội ngũ lãnh đạo mới. Nhưng dân tộc, đất nước cũng chẳng thể trông chờ gì vào đội ngũ lãnh đạo mới này bởi vẫn là những “khuôn mặt” ấy, họ vẫn vận hành trong guồng máy ấy, guồng máy lấy những điều luật phản dân chủ, phản văn minh để đàn áp người dân, đàn áp những người đấu tranh cho sự tiến bộ của đất nước, khư khư giữ lấy địa vị độc tài hòng mang lại lợi ích cho phe nhóm của họ. Để đất nước thay đổi, tiến bộ người dân không còn cách nào khác phải tự trông vào chính mình. Có nghĩa là phải đấu tranh để “giành lấy nhân quyền cho chính mình, cho cả dân tộc” như Lê Thị Công Nhân đã nói.


TRẦN HOÀNG LAN



02 January 2010

TẠI SAO CỘNG SẢN VIỆT NAM VẪN TỒN TẠI ?


Với một ngàn năm Bắc thuộc cùng với chính sách cai trị vô cùng hà khắc của rợ Hán và đã bị áp đặt chính sách Hán hóa lên dân tộc ta, tổ tiên chúng ta vẫn cố đứng lên đấu tranh giành lại được độc lập cho đất nước và chủ quyền cho dân tộc. Tổ tiên chúng ta vẫn giữ vững được văn hoá và phong tục tập quán riêng không để bị đồng hoá bởi người Hán. Chẳng lẽ ngày nay, chỉ vì một bọn người vong bản, đã đem một chủ nghĩa ngoại lai và không tưởng là chủ nghĩa Cộng Sản về áp dụng mà nước ta bị mất, dân tộc ta bị đồng hóa?

Lê Duy San



Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ rồi tới các nước cộng sản Đông Âu trải qua một cuộc cách mạng nhung và sau cùng là Liên Bang Sô Viết tan rã, nhiều người tưởng rằng chế độ Cộng Sản VN chắc cũng chẳng còn tồn tại được bao lâu nữa. Nhưng thực tế nó vẫn tồn tại, vẫn sống, không những sống dai mà còn sống mạnh. Tại sao vậy ? Phải chăng nó đã được lãnh đạo bởi một nhóm người tài ba, lỗi lạc hay chỉ vì chúng đã áp dụng những biện pháp cực kỳ sắt máu và tàn bạo hơn khiến không ai dám có tư tưởng chống đối hay nổi dậy lật đổ chúng?

Ngày nay, với thông tin điện tử tòan cầu, chuyện gì xẩy ra, dù ở bất cứ đâu, dưới chế độ nào thì cũng chỉ ít phút sau là cả thế giới đều biết. Hơn nữa chúng (Việt Cộng) đã được gia nhập vào Liên Hiệp Quốc, WTO v.v…do đó chúng bắt buộc phải thay đổi chính sách cai trị sắt mắu phần nào, không còn dám tàn bạo, độc ác và dã man như trước. Nhưng ngược lại, những phương pháp lọai trừ hay cô lập những thành phần chống đối, bất đồng chính kiến và nhất là những thành phần mà chúng coi là “phản động” thì lại mỗi ngày một tinh vi hơn, khắt khe hơn.

Chúng ta còn nhớ, năm 1975, sau khi bọn Việt Cộng cưỡng chiếm được toàn thể miền Nam, để loại trừ tất cả những thành phần chống đối hoặc có thể chống đối, trước hết chúng bắt tất cả các quân nhân, mà chúng gọi là nguỵ quân, từ cấp úy trở lên và tất cả các công chức, mà chúng gọi là ngụy quyền, từ cấp chánh sở trở lên hoặc tương đương, cho đi tù mà chúng gọi là cho đi học tâp cải tạo. Kế đến chúng tạo ra vụ nổ ở hồ con rùa để bắt đi tù tất cả những văn nghệ sĩ miền Nam mà chúng gọi là những tên “biệt kích văn nghệ”. Rồi chúng loan tin Hiệp định Paris sẽ được thi hành để cho tất cả các chính trị gia, các thành phần đảng phái tưởng thật, xuất đầu lộ diện rủ nhau hội họp để sửa soạn cho một chính phủ liên hiệp ra đời. Tới khi chúng thấy hầu hết tất cả các thành phần chống đối xuất diện, chúng làm một mẻ lưới bắt hết cho vào tù. Cuối cùng chúng tạo ra những phong trào phục quốc giả để bắt nốt nhưng thành phần chống đối hoặc có ý tưởng chống đối chúng còn sót lại. Những chính sách như đổi tiền, cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản mại bản, lập vùng kinh tế mới v.v… cũng không ngoài mục đích cô lập và vô hiệu hoá tất cả những thành phần chống đối còn sót lại. Cuối cùng, những người nào không ưa Việt Cộng, không còn muốn sống với chúng chỉ còn duy nhất một con đường là bỏ nước ra đi tức vượt biên để tìm tự do. Có thể nói, sau 10 năm (từ 75-85) áp dụng những chính sách này, dân VN chỉ còn 2 loại người:

1/ Những đảng viên Cộng Sản và những người đã theo chế độ Cộng Sản từ trước

2/ Những người tuy không ưa chế độ Cộng Sản nhưng cũng đành chiụ tuân phục chế độ để sống qua ngày vì không có tiền để vượt biên hay vì còn quá lưu luyến với quê cha, đất tổ..

Nhưng sau 35 năm sống dưới chế độ Cộng sản tư tưởng của 2 hạng người trên đã thay đổi và nẩy sinh ra những hạng người chống đối mới. Đó là những hạng người nào? Và Cộng Sản VN đã áp dụng những chính sách gì để loại trừ những hạng người này đổ tồn tại?

I/ Sự chống đối mới của các đảng viên Cộng Sản và nhân dân VN.

1/ Sự chống đối của các đảng viên Cộng Sản VN.

Phải nhìn nhận rằng vào thời điểm 1945, hầu hết người dân VN đều không hiểu biết gì về Cộng Sản hoặc nếu có biết thì cũng chỉ hời hợt và cũng không ưa gì Cộng Sản, nhưng tất cả đều có tinh thần yêu nước rất cao. Lợi dụng điềm này, Hồ Chí Minh đã tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản và thành lập đảng Lao Động (thực ra đây cũng chỉ là đảng Cộng Sản trá hình), nên đã lôi kéo được rất nhiều người gia nhập vào mặt trận Việt Minh rồi từ đó gia nhập vào đảng Lao Động.

Sau khi Cộng Sản VN đã thống nhất được 2 miền Nam Bắc, đại hội đảng lần thứ 4 vào năm 1976 đã chính thức đổi lại tên đảng Lao Động Việt Nam thành đảng Cộng Sản Việt Nam (trên thực tế thì chúng đã đổi lại từ 1956) và sau 10 năm với những chính sách hộ khẩu khắt khe, quốc doanh mọi ngành nghề, kinh tế chỉ huy toàn diện, và đưa nền kinh tế VN tới VN tới một nước nghèo nhất thế giới, người Cộng Sản đã nhận thấy rằng chủ nghĩa Cộng Sản không phải là lý tưởng của họ và chế độ Cộng Sản không phải là chế độ mà họ mong muốn. Nhiều đảng viên đã mất lòng tin và không còn tin vào chế độ nữa. Trước tình trạng này, đảng CSVN đã phải triệu tập đại hội đảng lần thứ 5 vào cuối tháng 3/1982, để chấn chỉnh lại hàng ngũ và hun đúc lại tinh thần của các đảng viên.

Nhưng vì vẫn đi theo đường lối cũ nên cũng không đem lại một kết qủa tích cực nào do đó đại hội đảng lần thứ 6 vào giữa tháng 12/1986 đã được triệu tập và lần này vì sống còn, chúng đã phải chấp nhận “đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, dứt khoát xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kế hoạch hóa theo phương hướng hạch toán kinh doanh XHCN; phát huy động lực của Khoa học kỹ thuật; mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại” và :

1/ Đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước; vạch ra phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội trong 5 năm 1986-1990.

2/ Đề ra ba chương trình kinh tế lớn là: Lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

3/ Khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần Cách mạng và khoa học.

Tuy nhiên vì bọn lãnh đạo vẫn ngoan cố nên vẫn bị Mỹ cấm vận và kết qủa chỉ là đem lại một phần nào dễ thở một số đảng viên đương quyền mà thôi, còn những kẻ thất sủng hay không có quyền lợi gì thì nghèo đói vẫn nghèo đói mạt rệp nên vẫn bất mãn. Do đó tới cuối tháng 6/1992, bọn lãnh đạo Hà Nội đã phải triệu tập đại hội đảng lần thứ 7 vào cuối tháng 6/1992 tại Hà Nội để thông qua “đổi mới toàn diện”. Tuy nói là đổi mới toàn diện, nhưng thực ra cũng chỉ là nửa vời. Cuối cùng chúng đã phải xuống nước, từ bỏ hết các yêu sách để được Mỹ hủy bỏ cấm vận vào năm 1994 và đến đại hội đảng lần thứ 8 vào cuối tháng 6/1996 cũng tại Hà Nội , đại hội đã “xác định đường lối kinh tế là đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN. . . Đây là một sự chuyển biến rõ ràng từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế tư bản, một sự đầu hàng rõ ràng của chủ nghĩa Cộng sản trước chủ nghĩa Tư Bản, nhưng bọn lãnh đạo Hà Nội vẫn ngoan cố chưa chập nhận là chủ nghĩa Cộng Sản đã lỗi thời và đang phá sản, nếu không muốn nói là đang giẫy chết. Chúng vẫn ngoan cố bấu víu vào cái xác chết của chủ nghĩa Cộng sản bằng những chữ kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đưa tới một cái chế độ quái thai là kinh tế thì đi theo chủ nghĩa Tư Bản, nhưng chính trị thì theo chủ nghĩa Cộng Sản, còn đảng Cộng Sản thì trở thành một đảng Mafia chuyên bảo kê cho các bọn gian thương tham nhũng và ma cô, đĩ điếm, chuyên xuất cảng lao nô và đĩ điếm.

Với những đổi mới nửa vời trên, kết qủa là vẫn chỉ những đảng viên cộng sản có chức, có quyền là béo bở. Những đảng viên không chức, không quyền hay đã về hưu vẫn nghèo xơ, nghèo xác nên vẫn bất mãn và lòng tin đối với đảng cũng tiêu tan. Trước tình trạng này, bọn lãnh đạo Hà Nội đã phải triệu tập đại hội 9 vào tháng 4/2001 và đại hội 10 vào tháng 4/2006 để công nhận quyền tư hữu và chấp nhận cho cả đảng viên có quyền kinh doanh.

Nhưng đâu phải đảng viên nào cũng có tiền để kinh doanh? Mà có tiền để kinh doanh cũng chưa chắc đã thành công nếu không có chỗ dựa, không có ô dù. Thật không có gì nực cười bằng đảng viên cũng phải hối lộ đảng viên, cán bộ cũng phải hối lộ cán bộ ! Tóm lại, số đảng viên giầu có vẫn chỉ là thiểu số, còn đa số vẫn nghèo đói, khổ sở. Do đó thành phần bất mãn càng ngày càng nhiều. Không những thế, nhiều đảng viên còn nhận chân ra được là cái chính nghĩa mà bọn lãnh đạo Hà Nội rêu rao trước kia thực ra chỉ là do sự lừa bịp của bọn lãnh đạo Hà Nội mà có . Và cái lý tưởng cao cả của bọn lãnh đạo Hà Nội đề ra trong cuộc chiến 45-75 là đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập cho dân tộc cũng chỉ là giả tạo. Ngày nay, nhiều đảng viên Cộng Sản đã nhận ra bọn lãnh đạo Hà Nội chỉ là một bọn bán nước, bọn lính đánh thuê cho Cộng Sản quốc tế không hơn, không kém. Vì thế nhiều đảng viên đã từ bỏ đảng hoặc trở thành những kẻ đối lập, những kẻ bất đồng chính kiến, điển hình là các ông Trần Xuân Bách, Nguyễn Hộ, Hoàng Hữu Nhân, Nguyễn Trung Thành, Lê Hồng Hà, Nguyễn Trung Hiếu, Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Trần Anh Kim, Đào Văn Nghệ v.v…

2/ Sự chống đối của dân chúng.

Sau 2 thập niên 75 và 85, bọn Cộng Sản Hà Nội đã loại trừ và cô lập được hết các thành phần chống đối chúng, chỉ còn lại một thành phần duy nhất là theo chúng hoặc khuất phục chúng dù thích hay không.

Nhưng sau 35 năm (75-09) một thế hệ mới ra đời. Thế hệ này tuy sống trong chế độ Cộng Sản, được dậy dỗ và nhồi sọ tư tưởng Mác Lê, chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng với hệ thống thông tin điện tử toàn cầu (internet) và từ đó ta có thể truy cập e-mail (electronic mail - thư điện tử) và World Wide Web (hệ thống truy cập thông tin toàn cầu) để biết mọi chuyện đã và đang xẩy ra trên thế giới. Ngụy quyền CSVN chỉ có thể kiểm soát hay ngăn cản chứ không thể ngăn cấm, nhất là đối với những người chỉ truy cập. Ngụy quyền CSVN không thể bưng bít những tin tức, do đó thế hệ trẻ sau này, tuy không được học hỏi nhưng cũng hiểu biết nào thế nào là dân chủ, thế nào là nhân quyền và từ đó họ hiểu rõ chế độ Cộng Sản VN chỉ là một chế độ độc tài, không hơn, không kém, cần phải đạp đổ và chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là gì một chủ nghĩa không tưởng, cần phải thay thế và bọn lãnh đạo Cộng Sản Hà Nội chỉ là một bọn bán nước, làm tay sai cho Trung Quốc.

Từ đó, một lớp người chống đối mới đã nổi lên, điển hình như: BS Phạm Hồng Sơn, LS Nguyễn Văn Đài, LS Lê Chí Quang, LS Lê Công Định, Thạc Sĩ Nguyễn Tiến Trung, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nhà văn Nguyễn Văn Chấn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Xuân Nghĩa, GS Trần Khuê, Nguyễn Xuân Tụ, Vũ Hùng, Phạm Đoan Trang, các bloggers Điếu Cày Nguyễn Hoàng Hải, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Người Buôn Gió Bùi Thanh Hiếu v.v…những đảng mới đã xuất hiện điển hình là đảng Thăng Tiến Việt Nam của Linh Mục Nguyễn Văn Lý và nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, đảng Dân Chủ (mà ông Lê Công Đinh là Tổng Thư Ký và Trần Anh Kim là phó Tổng Thư Ký), Cao Trào Nhân Bản của bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Kối 8406 v.v… cùng một số các nhà tu hành như Cố Tăng Thống Thích Huyền Quang, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, các LM Nguyễn Hữu Giải, Chân Tín, Phan Văn Lợi; các MS Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Công Chính v v…

Những người dân bất mãn vì bị cướp đất, cướp nhà, những tín đồ bị mất nơi thờ phượng, những sinh viên, học sinh thấy đất nước bị xâm lấn, chủ quyền bị xâm phạm đã dám tụ tập kéo nhau lên tận Saigon hay ra tận Hà Nội biểu tình phản đối. Qua truyền thông, báo chí, truyền hình, Internet, diễn đàn điện tử v.v…, bất cứ chuyện gì xẩy ra tại Việt Nam bây giờ, không những tại các thành phố lớn, mà ngay ở tại các quận khỉ ho cò gáy, chúng ta cũng đều biết. Nào là vụ dân Thái Hà ở Hà Nội, cả chục ngàn người biểu tình đòi đất cho xứ đạo và vụ Tam Toà ở Vinh, cả trăm ngàn người biểu tình đòi đất cho nhà thờ. Nào là vụ ngụy quyền Cộng Sản dùng xã hội đen hành hung dân đi khiếu kiện ở giáo sứ Kẻ Mui (Hà Tĩnh). Nào là vụ dân Tiền Giang kéo nhau về Saigon đòi nhà đất năm 2007, vụ dân tỉnh Bình Thuận kéo nhau ra Hà Nội biểu tình chống tham nhũng vào năm 2007.

II Những biện pháp đối phó của ngụy quyền Việt Cộng.

Đứng trước tình trạng chống đối của các đảng viên cũng như của dân chúng, dĩ nhiên bọn ngụy quyền Việt Cộng không thể nào để nó lan rộng mà phải tìm cách dập tắt.

1/ Truy tố ra toà để răn đe, hù doạ.

Luật pháp nói chung và toà án nói riêng dưới chế độ Cộng Sản là để bảo vệ chế độ. Do đó biện pháp đầu tiên là dung công an để đàn áp và truy tố ra tòa. Biện pháp này không những có mục đích để trừng trị mà còn có mục đích răn đe. Việc bọn Việt Cộng đổi tội danh truy tố Trần Anh Kim, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung từ tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 88 bộ Hình Luật VC thành tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 Bộ Hình Luật VC hoặ dựng lên những con ngáo ộp như “Thế lực thù nghịch”, “Diễn tiến hoà bình” hay “Bọn phản động” cũng không ngoài mục đích này. Nhưng biện pháp này ngày nay, hầu như vô hiệu bởi vì những người bất đồng chính kiến, hay phổ biến những tư tưởng tự do, dân chủ nhân quyền hay biểu lộ lòng yêu nước, không phải là một tội. Hơn nữa, ngày nay, tai mắt quốc tế hầu như có mặt ở khắp nơi và bọn lãnh đạo Hà Nội đã đặt bút ký vào các bản văn quốc tế như Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nên không thể muốn xử sao thì xử. Do đó dù có khắt khe tới đâu chúng cũng chỉ có thể gắn cho một tội danh vớ vẩn để phạt tù chứ không thể tuyên án tử hình để giết người vô tội.

2/ Hủ hoá để làm mất ý chí đấu tranh và dễ bề sai khiến.

Đây là một chính sách rất tai hại và cực kỳ phản động. Nó đưa cả dân tộc vào con đường sa đoạ, không lối thoát. Nhiều người đầu óc nông cạn, cho rằng bây giờ Việt Nam đã thay đổi. Họ được ăn chơi thà dàn. Phòng trà ca nhạc, vũ trường, bia ôm, bia mớm, tắm hơi, tắm ôm v.v…mọc ra như nấm, nơi nào cũng có. Ban đêm thì đĩ điếm đầy đường, ngay cả chung quanh vườn Tao Đàn ở Saigon, không phải chỉ có gái điếm mà còn có cả đĩ đực. Không phải chỉ có các ông đi mua dâm mà còn có cả các bà cũng đi tìm lạc thú. Ban ngày cờ bạc khắp nơi, ngay cả các công viên, như vườn hoa Con Cóc ở Hà Nội, thanh niên nam nữ tụ tập đánh bạc công khai. Phải chăng đó là sự thay đổi mà họ nhận thấy? Họ không biết rằng đây chính là chính sách của bọn ngụy quyền Hà Nội: chính sách hủ hoá người dân để làm nhụt khí đấu tranh. Chính sách này, ngày xưa thực dân Pháp đã áp dụng ở VN, mục đích nhằm mục đích để dân chúng mải vui chơi mà quên đi lòng yêu nước mà thôi. Ngày nay bọn Cộng Sản Hà Nội không còn lương tri của con người, nên bọn chúng đã áp dụng triệt để, không những để hủ hoá dân chúng mà còn để hủ hoá cả các công nhân viên và cán bộ chính quỳền, làm cho dân chúng cũng như công nhân viên, cán bộ chỉ còn biết ăn chơi, không còn nghĩ tới tiền đồ của tổ quốc, tương lai của dân tộc, mà chỉ nghĩ làm sao có tiền, thật nhiều tiền không những để cất nhà lầu, mua xe xịn mà còn để ăn chơi. Bởi vậy chúng ta không lấy làm lạ khi thấy có rất nhiều viên chức Việt Cộng có vợ bé, có nhân tình. Có rất nhiều giảng viện, hiệu trưởng các trường đại học ở VN mua dâm của nữ sinh viên bằng điểm thi và không thiếu gì các nữ sinh viên sẵn sàng nhận làm vợ hờ, gái bao để có tiền nói là để ăn học nhưng thực ra cũng chỉ là để ăn diện. Còn đất có bị Tầu lấn thí cũng mặc, biển có bị Tầu chiếm thì cũng kệ. Những tổ chức buôn người, những đường dây buôn bán gái mãi dâm dưới hình thức xuất cảng lao động, giới thiệu lấy chồng ngoại quốc (Đại Hàn, Đài Loan, Trung Quốc v.v…) mọc ra như nấm và hoạt động công khai, hợp pháp. Chính cũng vì vậy mà bọn lãnh đạo Hà Nội đã không quyết tâm bài trừ tham nhũng để công nhân viên, cán bộ mặc tình tham nhũng để chúng dễ bề sai khiến.

Nhưng đâu phải ai cũng có tiền để hủ hoá? Ngay cả chế độ tư bản, số người giầu vẫn ít, số người nghèo vẫn nhiều huống là chế độ Cộng Sản. Không những thế, người dân còn bị áp bức, bị cướp đất, cướp nhà. Liệu bọn Cộng Sản Hà Nội có triệt tiêu được hết những thành phần bất đồng chính kiến, những thành phần bất mãn được không? Chính bọn Cộng Sản đã nói “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Có đấu tranh thì sẽ có nổi dậy. Vì sợ dân chúng nổi dậy, bọn lãnh đạo Hà Nội đã phải cúi đầu tuân theo mệnh lệnh của Trung Cộng. Càng lệ thuộc Trung Cộng bao nhiêu, bọn Cộng Sản Hà Nội càng mất chủ quyền bấy nhiêu. Đó là điều mà toàn dân đã thấy khi Trung Cộng tung hoành trên biển Đông, ngay trong lãnh hải của VN, cấm ngư dân VN đánh cá, ngang nhiên bắt ngư dân VN và đòi tiền chuộc mà bọn lãnh đạo Hà Nội vẫn không dám có một lời phản kháng. Trong khi đó thì dân Trung Quốc được tự do nhập cảnh VN không cần passport, hộ chiếu, làm việc bất hợp pháp nhưng công khai, lấy vợ VN chẳng cần giấy tờ vì gái VN bây giờ tinh thần đã bị hủ hoá, chỉ cần tiền, tiền và tiền. Liệu còn bao lâu nữa, dân VN sẽ bị đồng hoá bởi người Tầu và nước VN sẽ trở thành một tỉnh của Trung Quốc?

Với một ngàn năm Bắc thuộc cùng với chính sách cai trị vô cùng hà khắc của rợ Hán và đã bị áp đặt chính sách Hán hóa lên dân tộc ta, tổ tiên chúng ta vẫn cố đứng lên đấu tranh giành lại được độc lập cho đất nước và chủ quyền cho dân tộc. Tổ tiên chúng ta vẫn giữ vững được văn hoá và phong tục tập quán riêng không để bị đồng hoá bởi người Hán. Chẳng lẽ ngày nay, chỉ vì một bọn người vong bản, đã đem một chủ nghĩa ngoại lai và không tưởng là chủ nghĩa Cộng Sản về áp dụng mà nước ta bị mất, dân tộc ta bị đồng hóa? Không, không bao giờ, người dân VN ngày nay đã không còn sợ hãi bọn Cộng Sản như trước. Họ đã dám kéo nhau đi biểu tình đòi nhà đói đất. Họ đã dám tụt quần trước cơ quan của ngụy quyền Cộng Sản và chửi rủa và đả đảo bọn ngụy quyền tham nhũng khiến bọn Việt Cộng phải dùng xã hội đen để đàn áp. Người dân oan khi được đài RFI phỏng vấn đã dám gọi đảng Cộng Sản VN là đảng Cướp. Điều đó chứng tỏ rằng ngụy quyền Cộng Sản VN không còn uy quyền gì đối với quần chúng, sự xụp đổ của chế độ Cộng Sản là điều chắc chắn sẽ xẩy ra, vấn đề chỉ là thời gian. Tiếc rằng, trong số người Việt tỵ nạn Cộng sản chúng ta đã có một số người, hay nói cho rõ hơn, một số trí thức mê sảng mà một đồng môn Chu Văn An, anh Bùi Bảo Trúc đã gọi là bọn chó đẻ, chỉ vì một chút lợi danh, không những đã không góp phần vào công việc giải trừ chế độ Cộng Sản Việt Nam lại đi làm tay sai cho bọn Việt Cộng khiến bọn chúng vẫn còn sống dai dẳng cho tới ngày nay. Thật đáng phỉ !!!


Lê Duy San




Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi. Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.
Nhà cầm quyền cộng sản, hơn lúc nào hết, luôn buộc người dân lo nghĩ đến chuyện miếng ăn, cái mặc. Cái bụng lúc nào cũng phải cảm thấy còn đoi đói, chưa no. Và người dân thì thiếu thốn nhu yếu phẩm, lo chạy gạo từng bữa. Ðủ hôm nay thì thiếu ngày mai, hay được nồi cơm sáng, thì lại chưa có nồi cơm chiều. Cuộc đời cứ quần quật lo đói rách như thế, thì xin hỏi, còn chi thì giờ mà nhân dân nghĩ đến tranh đấu, hoặc đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền?
Cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh từng dạy: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường. Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi”.
"The religion of the future will be a cosmic religion. The religion which is based on experience, which refuses dogmatism. If there's any religion that would cope with modern scientific needs it will be Buddhism." Albert Einstein

Tôn giáo trong tương lai sẽ là tôn giáo của vũ trụ. Tôn giáo này dựa trên kinh nghiệm và không chấp nhận chủ nghĩa giáo điều. Nếu có một tôn giáo nào tương thích với khoa học hiện đại, đó chính là Phật Giáo.




Bạn Ơi Hãy Cùng Nhau Đấu Tranh Cho Cuộc Sống Của Mình & Tương Lai Của Con Cháu Mình !!!



Nhân Dân Cần Nhận Diện Bộ Mặt Thật Của Giới Cầm Quyền. Phải Hành Động Cụ Thể Đối Với Bọn Chúng !!!



Chỉ Mặt, Nhận Diện Bọn Cán Bộ Óc Đất, Lũ Công An Lưu Manh, Đám Quan Chức Tham Nhũng, Tay Sai !!!

Công Nhân Bị Đánh Đập Tàn Nhẫn, Dã Man !!!


Followers