28 February 2012

Đừng bao giờ quên các Cha Cố buổi ban đầu …

Đừng bao giờ quên các Cha Cố buổi ban đầu …

Hoàng Lộc

Công giáo Việt Nam là nguyên nhân, là lực vận động, là kẻ tòng phạm, và là thành quả của cuộc xâm lăng rồi đô hộ

của Thực dân Pháp trong lịch sử nước ta là hoàn toàn đúng. Tuyệt đối đúng.

Năm 1787, Giám mục Pigneau de Béhaine (1741-1799) đã cùng với Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trai trưởng lúc bấy giờ mới 7 tuổi của chúa Nguyễn Ánh, đến Paris bệ kiến vua Louis 16,  gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Armand Marc để nhượng đất (đảo Côn Lôn/Poulo Condor và cảng Đà Nẳng/Tourane), xin quân viện (4 tàu chiến và 1,650 lính Pháp) và ký hiệp ước Versailles (28-11-1878), hiệp ước đầu tiên bán nước Việt Nam cho Pháp.

Hiệp ước Versailles tuy không được áp dụng, nhưng từ đó và nhờ đó, Giám mục Pigneau de Béhaine, một số giáo sĩ và các sĩ quan hiếu động nhiều tham vọng Pháp đã nhân cơ hội nầy thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam. Với những mưu đồ đen tối, với những thủ đoạn xảo quyệt, họ đã thúc đẩy được chính phủ Pháp đem quân xâm chiếm Việt Nam, rồi cùng với bọn tay sai thông ngôn và giáo quyền bản xứ đặt một nền đô hộ hà khắc và tàn bạo, vắt kiệt tài nguyên và nhân lực của dân tộc ta hơn 80 năm trời.

Trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử nổi tiếng Việt Nam Pháp Thuộc Sử (nxb Đại Nam, 1961, Sài Gòn), giáo sư Phan Khoang (trước 1975 là giáo sư đại học Văn Khoa và đại học Huế, biên tập viên Tập san Sử Điạ) đã đưa ra những sử liệu rất rõ ràng về vai trò của các giáo sĩ Kitô giáo.

Ông tóm tắt:

"Những người đề xướng đầu tiên cuộc chinh phục nước Nam là mấy sĩ quan hải quân của hạm đội Pháp ở biển Trung Quốc như các ông Cécille, Rocquemaurel, Fourichon, Jaurès Maison-Neuve, mấy đại diện ngoại giao kế nhau ở Toà lãnh sự Pháp ở Macao như các ông Forth Rouen, De Courcy, Bourboulon; các ông ấy đã nhiều lần đề nghị với chánh phủ đem quân can thiệp ở nước Nam.

Nhưng hoạt động hăng hái hơn cả để làm cho chánh phủ Pháp quyết định là các Giáo sĩ, nhất là giáo sĩ Huc, Giám mục Retord, Giáo sĩ Libois và Giám mục Pellerin.

Giáo sĩ Huc trước đã dâng vua Napoléon III một kế hoạch thành lập một công ty để lo việc chinh phục và khai thác các xứ Cao Ly, Đà Nẵng, Madagascar; năm 1857 lại dâng một bức thư nhắc lại Pháp-Nam hiệp ước 1857 và sự cần thiết phải thiết lập gấp một căn cứ ở nước Nam. Chính lá thư ấy đã làm cho chánh phủ vua Napoléon III quyết định đặt một ủy ban để Nghiên Cứu vấn đề Nước Nam (Commission de la Cochinchine), trong ủy ban ấy, Giáo sĩ Huc đã tỏ bày ý kiến. Sau khi dâng bức thư kia, Giáo sĩ Huc được vua vời đến diện yết, và Giáo sĩ đã làm cho vua tin tưởng ở lời nói mình ». (đọc toàn bộ sự kiện nầy ở 3 trang 115, 116 và 117)

Tuy nhiên, thực ra, âm mưu xâm chiếm Việt Nam đã có từ thời giáo sĩ Alexandre de Rhodes kể từ khi ông ta đến Việt Nam (1624). Nghĩa là từ hơn 200 năm trước Pigneau de Béhaine.

Hồ sơ mật trong các văn khố của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp và nhất là của AOM (Archives Nationales de France, Section d'Outre Mer) ở Aix-En-Provence (Pháp), đã cho phép các sử gia xác định âm mưu truyền đạo VÀ thôn tính Việt Nam của Thiên Chúa giáo vốn có từ thời Cố đạo Alexandre de Rhodes (1591-1660).

Cố đạo Alexandre de Rhodes đến Việt Nam năm 1624 và vĩnh viễn rời Việt Nam năm 1645. Thời gian ở Việt Nam ông viết rất nhiều sách giúp người Âu Châu biết về tình hình chính trị, địa hình, địa vật, sông núi, sản phẩm, tài nguyên, v.v… của xứ Việt Nam. [Tuy là một giáo sĩ Dòng Chúa Cứu thế Jesuit nhưng ông vẫn nói láo trong những báo cáo, miễn sao  kích thích được lòng tham của quan chức chính phủ Pháp và chức sắc Giáo hội Pháp để họ yểm trợ cho ý đồ của ông (1)]. Ông cũng tiếp tục công trình của các Giáo sĩ Bồ Đào Nha trước đó (Francisco de Pina, Gaspar do Amaral và  Antonio Barbosa), dựa vào chữ La tinh mà chế ra chữ Quốc ngữ, để trước hết là cho giáo dân dễ học Kinh thánh và dễ dàng giao thiệp với những thừa sai ngoại quốc. Nhiều lần ông đã bị chúa Trịnh đuổi đi, nhưng từ Áo Môn, năm 1640 ông tìm cách trở lại Việt Nam để hoạt động cho đến năm 1645:

Ông viết: "Tôi tin rằng Pháp, vì là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để đi chinh phục toàn thể phương Đông. Cũng như ở đó tôi sẽ có cách có nhiều Giám mục vốn là các Cha và các Thầy của chúng ta ở trong nhà thờ. Tôi rời La Mã ngày 11-9-1652 với ý định đó."

Năm 1658, Vatican bổ nhiệm hai vị đại diện Tông Toà người Pháp là Francois Pallu (1626-1684) và Lambert De la Motte (1637-1693) đại diện trực tiếp Giáo hoàng… "Lịch Sử của Hội này (Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp) sẽ gắn liền chặt chẽ với lịch sử chiếm đóng của Pháptại Việt Nam" (La Société des Missions Etrangères fut alors créée dont l'histoire allait être intimement liée avec celle de l'implantation francaise au Vietnam). (Xem Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân tại Việt Nam, luận án tiến sĩ của ông Cao Huy Thuần, bản Việt văn trang 47, 48, bản Pháp văn trang 9, 10).

Giáo sư sử học Joseph Buttinger (một trong ba người "cha đở đầu" của chế độ Ngô Đình Diệm. Hai người kia là Hồng y Spellmann và Ngoại trưởng Dulles) trong Vietnam a Political History (trang 63, 64) cũng có những nhận định như của ông Cao Huy Thuần, được tạm dịch ra như dưới đây:

« Công cuộc phát triển đạo Thiên Chúa tại Đông Dương trở thành công tác đặc biệt của một tổ chức Pháp được gọi là Hội Truyền Giáo Hải Ngoại (Society of Foreign Mission) thành lập năm 1664 tại Paris. Tổ chức này đi song hành với Công ty Đông Ấn Pháp do các giáo sĩ Paris, Rouen thành lập.

"Đặc biệt, (vị  đại diện Tòa thánh) Pallu là một nhà kế hoạch chính trị, thường đi xa hơn các chỉ thị của cấp trên. Có thể gọi ông ta là người sáng chế mô thức thuộc địa trong đường lối chính trị tại Paris với phương sách "đã rồi" (accomplished facts). Ngoài những công việc đã thực hiện tại Á Châu trong khuôn khổ của Hội truyền Giáo mới thành lập, Francois Pallu còn lo việc tại Pháp, hợp tác với chính phủ khuếch trương ảnh hưởng Pháp tại Viễn Đông."

Tiến sĩ Yoshiharu Tsuboi, giáo sư đại học Đông Kinh (Todai), trong cuốn "L'Empire Vietnamien Face à la France et à la Chine" đã kết luận như sau:

"Trong công cuộc "Phúc âm hóa" nước Việt Nam có một tổ chức và năm giáo sĩ người Pháp đã giữ một vai trò quan trọng: Hội Thừa Sai Paris và các giáo sĩ Alexandre de Rhodes, Francois Pallu, Pigneau de Béhaine, François Marie Pellerin và Paul François Puginier". (đọc chi tiết từ trang 31 đến 57)

Như vậy là từ khi đến Việt Nam năm 1624, Alexandre de Rhodes đã nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế, địa dư nước Việt Nam, huấn luyện và tổ chức những tập đoàn tín đồ Thiên Chúa giáo bản xứ trung thành với Toà thánh Vatican rồi trở về Âu châu năm 1645 và qua năm 1646trình bày kế hoạch Phúc âm hóa Việt Nam và chiến lược thôn tính Việt Nam cho chính phủ Pháp.

Do đó, bây giờ, khi kết luận rằng Công giáo Việt Nam là nguyên nhân, là lực vận động, là kẻ tòng phạm, và là thành quả của cuộc xâm lăng rồi đô hộ của Thực dân Pháp trong lịch sử nước ta là hoàn toàn đúng. Tuyệt đối đúng.

Hoàng Lộc

……

[Trích đoạn từ "Chuyện buồn Nước tôi", Văn Tân, Houston, 2012]

(1) De Rhodes returned to Rome by 1649 and pleaded for increased funding for Catholic missions to Vietnam , telling somewhat exaggerated storiesabout the natural riches to be found in Vietnam . Around 1650, he reported to Rome that there were about 200,000 baptized Vietnamese, and every year there were 15,000 new converts. Those numbers turned out to be inflated, in retrospect, there were probably 60,000 Catholics in Vietnam at the end of de Rhodes'stay

http://www.advite.com/ AlexandredeRhode.htm

ĐÀI TRUYỀN HÌNH HAI MANG: SINH BẮC TỬ NAM

ĐÀI TRUYỀN HÌNH HAI MANG: SINH BẮC TỬ NAM

Dân Chì

Theo kinh nghiệm lịch sử, không có phe thù nghịch nào chấp nhận bất cứ cái gì từ phía bên kia. Thời đệ nhị thế chiến, đài phát thanh nổi tiếng BBC, không thể gởi thông tín viên của đài, công khai hoạt động ở nước Đức hay cả những vùng do quân Quốc Xã chiếm đóng, tất nhiên là các nhân viên đài BBC, nếu có mặt, cũng cần phải lẫn tránh tối đa tất cả những gì có quan hệ đến Quốc Xã, nhất là tổ chức tình báo Gestapo.

Trái lại ở Luân Đôn, Hoa Thịnh Đốn, Canberra....cũng không chấp nhận bất cứ cơ quan thông tin nào của Quốc Xã hay Nhật Hoàng, được tự do hoạt động như là các cơ quan truyền thông của họ. Nên nhớ là sau trận Nhật dội bom Trân Châu Cảng năm 1941, làm chết 2, 700 người, bị thương hàng ngàn người khác, thì tin tức tình báo cho biết là không quân Nhật có khả năng tấn công nước Mỹ, nên tại thành phố Nữu Ước, hàng chục ngàn cư dân Mỹ gốc Nhật đã bị tập trung, giải về các trại tạm cư ở Cali...phòng bịnh hơn trị bịnh.

Thời chiến tranh lạnh, các nước Cộng Sản Nga, Tàu, Đông Âu....không thể cho và lợi dụng sự tự do truyền thông để gởi các đại diện truyền thông nhà nước sang cộng sản, thu lượm tin tức và hoạt động công khai trong lòng địch. Trái lại, các nước Cộng Sản càng gắt gao và lưu ý hơn, họ sẵn sàng bắt bớ những ai hoạt động đưa tin sang các cơ quan truyền thông tây phương, không bao giờ cho phép đại diện các cơ quan truyền thông tay phương được hoạt động, ngay cả đài phát thanh Âu Châu Tự Do, cũng bị phá sóng tối đa.

Ngày nay, tại nước ngoài, đài truyền hình SBTN do nhóm Trúc Hồ, Nguyễn Nam Lộc, Nguyễn Nam Khánh.... và những thế lực bên trong đã thành công trong việc tạo được thế hòa hợp hòa giải truyền thông hai chiều, hai bên đều có lợi. Điều nầy đã xảy ra khá lâu, là một chuyện bất thường, cần phải lưu ý để tránh thiệt hại cho người quốc gia.

Đài truyền hình SBTN có công quyên góp tiền của người Việt hảo tâm nước ngoài, chuyển về nước làm từ thiện, hàng chục năm qua, con số tiền nầy không phải là nhỏ. Người làm công việc từ thiện có chính sách nầy là Trúc Giang, cha của Trúc Hồ.

Đài truyền hình SBTN được hoạt động công khai tại Việt Nam, dù nhiều người tưởng đài nầy chống cộng, lập trường quốc gia rõ ràng qua các chương trình nói chung chung, tố tham nhũng, dân oan, nhân quyền, ca tụng các nhà dân chủ, mà sau nầy họ không chủ trương lật đổ Cộng Sản qua biểu tình tại gia, lật đổ cộng sản làm xáo trộn xã hội...... đây là những điều đảng cùng nhà nước Việt Nam xem là nhàm chán, thế giới và người Việt nói quá nhiều, nói thêm nữa cũng không thiệt hại gì. Đài có đặc phái viên, đại diện là đứa con trai lớn của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, có phỏng vấn trong nước, quay phim và gởi ra nước ngoài thoải mái...chả lẽ ngày nay đảng và nhà nước đã mở nới rộng, cho phép truyền thông tự do? Nhưng các bloggers như Điếu Cày, Người Buôn Gió...lại bị đàn áp thẳng tay, họ đâu có phản động bằng đài truyền hình SBTN?

Nhìn đa số các thương gia quay về làm ăn như vua chả giò Trịnh Vĩnh Bình, Úc Kiều Nguyễn Trung Trực, Nhật kiều Nguyễn An Trung, Mỹ kiều Trần Trường.... đã bị trấn lột sau thời gian làm ăn, phả bỏ của chạy lấy người. Nhưng bên cạnh đó, rất hiếm gương thành công, làm giàu tại Việt Nam, lâu dài như nữ thương gia Nancy Bùi, Katrina Hoàng Oanh...không phải tự nhiên thành công, trong một chế độ chủ trương trước sau như một: thà giết lầm hơn tha lầm. Như thế, vài gương thành công nêu trên phải có thể lệ và điều kiện áp dụng..

Đài truyền hình được một số người cho là chống cộng lớn nhất nước ngoài của người Việt tỵ nạn chủ trương SBTN, có được hoạt động công khai, thông tín viên, đại diện đài, đại diện từ thiện, tất là điều khác thường. Trong lúc những tờ báo điện, giấy nào chống cộng mạnh, hay những người nổi tiếng, kiên trì...chắc là không bao giờ được đảng, nhà nước cho về, trừ trường hợp đổi màu, đón gió, xin xỏ như Nguyễn Cao Kỳ và gia đình, Phạm Duy, Nguyễn Phương Hùng, hay về xin in sách và hội ngộ với Nguyễn Cao Kỳ như là nhà văn Đặng Văn Nhăm, nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc....

Dân biểu Mỹ là bà Loretta Sanchez hay vài nghị viện Âu Châu...cũng đã bị nhà nước Việt Nam từ chối nhập cảnh, dù đây là các nhà chính trị của các nước có bang giao với Hà Nội.

Nhưng đài truyền hình SBTN là đặc biệt và khác thường, cần phải lưu ý để không lầm lẫn nữa. Chế độ độc tài ở Việt Nam có thể cho là: họ đã có tự do truyền thông, bằng chứng là cho phép đài truyền hình phản động SBTN có đại diện tại Việt nam, như là những cam kết với các nước tây phương để nhận buôn bán, viện trợ. Từ đó họ đòi hỏi các nước tây phương làm như họ qua cái gương của đài truyền hình SBTN của nhóm Trúc Hồ, Trúc Giang, Nguyễn Nam Lộc, Nguyễn Nam Khánh...và những thế lực bên trong. Có thể là họ đưa đại diện bộ thông tin văn hóa, các thông tín viên, nhà báo quốc doanh sang hoạt động công khai ở các cộng đồng tỵ nạn, qua tiền đề từ đài truyền hình SBTN.

Đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam không làm cái gì mà không có ý đồ, mục đích yêu cầu. Việc họ cho phép đài truyền hình SBTN và đại diện đài từ thiện Trúc Giang, là có lý do, và cũng như điều kiện hay sự quan hệ giữa hai bên. Vụ nhạc sĩ trẻ trong nước là Việt Khang bỗng bị bắt và người tiên phong kêu gọi cứu là Trúc Hồ, lời lẽ rất là tích cực, kèm theo vận động chữ ký, nhưng sự vụ nầy có nhiều nghi vấn. Trong khi bị giam cầm, nhà nước và công an rất cần những tin tức về Việt Khang, thì đài truyền hình SBTN là nơi đưa hình anh nhạc sĩ mặc áo thung của tổ chức phản động nước ngoài là Tuổi Trẻ Yêu nước. Đó có phải làm hại người ta không?. Công an chỉ cần thu thập những lời tự khai của các nhân sự, tổ chức trên đài truyền hình SBTN và vài tờ báo của Việt Tân, khỏi cần phải mất nhiều thời giờ, cũng đủ để kết án nặng qua tội danh cấu kết với các thế lực phản động nước ngoài, âm mưu lật đổ nhà nước.

Người Việt nước ngoài cần phải cẩn thận đài truyền hình SBTN, đây là cơ quan truyền thông hai mang, đáng nghi ngờ, phòng bịnh hơn trị bịnh. Những kinh nghiệm xương máu về sự gian manh của Cộng Sản, không cho phép nạn nhân CS tin tưởng một cách mù quáng đài truyền hình nầy.

Dân Chì
25.02.2012

"BẮT CÓC VÀ GIAM CẦM"

  "BẮT CÓC VÀ GIAM CẦM"


Trần Quang Diệu

                                 

"Tôi đã bị bắt trong vụ 11.11.1960 và ba năm bị giam cầm trong ngục tù của Diệm, Nhu và bị tra tấn dã man, nhất là bị sợi dây oan nghiệt treo từ trần nhà buông xuống".

 

Sau khi đảo chánh 11.11.1960 thất bại, tôi bị bọn mật vụ của Diệm, Nhu bắt giam tại một biệt thự gần phi trường Tân Sơn Nhứt. Đó là một ngôi nhà lầu, nằm trên con đường Võ Tánh – Lăng Cha Cả, bên cạnh hãng sản xuất xe Lambretta. Ngôi nhà này ở chính giữa, hai bên có hai dãy nhà lợp tôn. Khách qua đường nhìn vào sẽ thấy một khu vườn rộng, và một ngôi nhà cũng như hàng trăm ngôi nhà khác.

 

Nhưng có ai ngờ đó là một trại giam bí mật, thuộc quyền hành của bọn tay sai Diệm, Nhu.

 

Chiều ngày 15.11.1960, hồi 5 giờ, tôi đương đáp xe tắc-xi trên đường Trương Minh Giảng thì bị một chiếc xe díp chận lại. Năm sáu người nhảy xuống vây lấy chiếc tắc-xi tôi ngồi. Những họng súng lục chĩa vào trong xe. Một tên ra lịnh:

 

- Lôi nó xuống.

 

Cửa xe tắc-xi vừa mở, hai tên lôi tôi ra, còn tay thì bịt mắt tôi lại, đẩy lên xe díp. Bắt đầu vào đó, tôi không còn biết xe đã chạy qua những con đường nào. Khi xe dừng, chúng lôi tôi xuống dẫn vào một căn nhà.

 

Chúng mở còng, và lấy dây buộc chặt hai tay tôi ra sau lưng. Chúng vẫn chưa mở chiếc khăn bịt mắt tôi. Tôi không thể nào định được mình đang ở đâu. Đang phân vân, tôi bị những mũi giày đá vào người tới tấp. Hai tay bị trói, mắt bị bịt kín, tôi không thể nào đỡ được những cái đá trời giáng đó. Tôi biết rằng giờ hành hình đã đến. Sau chúng ngừng tay, mở chiếc khắn bịt mắt tôi ra.

 

Định thần một lúc lâu, tôi mới biết mình đang ở trong một căn phòng nhỏ, tại một ngôi biệt thự. Lúc đó, có hai tên mặt đen xì, dẫn tôi qua phòng khác. Căn phòng này rộng cỡ 10 thước vuông, trên tường có treo những ảnh vẽ sọ người, bên dưới có viết mấy chữ "chết người". Bên cạnh có những câu khẩu hiệu "không dung túng những kẻ ngoan cố". "Một chánh thể Cộng Hòa Nhân vị". "Một lãnh tụ Ngô Đình Diệm".

 

Khi chúng mang những thanh củi vào. Hai tên bảo tôi leo lên đứng trên bàn. Trên trần nhà một sợi dây thừng treo lơ lửng.

 

Tôi chần chờ không chịu leo lên trên bàn. Tức thì những thanh củi tới tấp đánh vào người tôi. Hai tay bị trói. Tôi chỉ chờ có một cách là giơ lưng ra chịu trận. Chiếc áo sơ mi trắng tôi mặc, hai bên vai đã bắt đầu đổ máu đỏ lòm.

 

Ở đây, chúng không dùng những ma trắc như các nơi khác. Chúng lấy những thanh củi chẻ làm tư, chụm lại, hãy còn nguyên mắt để đánh. (Những ai đã từng bị giam giữ ở Mật vụ đã rõ). Đánh một lúc dường như đã mỏi tay, chúng dừng lại và khiêng tôi đứng trên chiếc bàn. Hai tên này buộc sợi dây thòng từ trần nhà xuống, vào sợi dây trói hai cổ tay tôi. Xong rồi chúng lôi cái bàn ra. "Đó là cách tra tấn: "cho đi tàu bay!".

 

Bấy giờ người tôi bị xách ngược lên, và quay tít như chong chóng. Hai con mắt tôi bắt đầu nhìn thấy những đóm lửa, hơi thở mệt nhọc. Chừng 10 phút như thế, thì hai tên khác lại vào, trên tay lại cầm củi. Chúng bảo tôi đọc to những khẩu hiệu treo trên tường, mà tôi vừa kể trên. Tôi định cất tiếng la, thì những thanh củi bắt đầu bay vào đầu, ngực, lưng và chân tôi.

 

Lúc đầu, tôi còn cảm thấy đau, mỗi khi một thanh củi đập vào đầu. Nhưng 15 phút sau, thì tôi không biết gì nữa. Bởi vì chỗ nào cũng bị đánh, cũng rớm máu, dây thần kinh gần như không còn tiếp nhận những cảm giác đau đớn nữa.

 

Bọn mật vụ tay sai của Diệm, Nhu đánh người, không phải để khai thác như những nơi khác, mà đánh để trả thù (1). Lúc đó máu ở trong cổ họng tôi trào ra. Khi tôi ngất đi trên sợi dây oan nghiệt đó, chúng cởi dây thả xuống.

 

Lúc đó, tôi mê man không còn biết là chúng đã làm gì. Đến 2 giờ sáng hôm sau tôi tỉnh dậy, miệng và cổ họng khô lại. Tôi khát nước, muốn uống một ca nước lạnh, nhưng trong phòng tối om. Người tôi ê ẩm, tay chân không động đậy gì được.

 

Tôi dựa lưng vào tường thở dốc. Bên ngoài có tiếng chân người đến gần. Tiếng chìa khóa tra vào ổ khóa. Cánh cửa hé mở, ánh sáng từ ngoài lùa vào. Một người gác mang súng "cạc bin" và một tên Mật vụ đứng trước c ửa gọi:

 

- Ê, ra đây nhanh lên thằng kia!

 

Tôi không trả lời, giả vờ như mê, chúng gọi liên tiếp, lấy báng súng đập vào cửa ầm ầm.

 

Mặc kệ, tôi cứ giả vờ như ngủ say. Những tiếng chửi từ trong miệng tên Mật vụ tuôn ra (2). Hắn xông vào, rọi đèn bấm vào mặt tôi.

 

Tôi vẫn không mở mắt. Hắn bước lại gần đá vào người tôi mấy cái liền. Xong hắn nắm tôi lôi dậy. Tôi cố gắng lắm mới có thể đứng lên, hai bàn chân và khắp người đã sưng tím đen lại (3).

 

Từ phòng giam, tôi đi qua một khoảng sân rộng, rồi lên căn nhà dùng làm chỗ khai thác. Hai tên Mật vụ đi sau vừa chửi rất tục tằn, dẫn tôi vào phòng tra hỏi. Tên D. người chỉ huy trại giam tại nơi đây, tay cầm súng lục, nhìn tôi một cách hằn học:

 

- Tôi báo cho anh biết, ở đây một là khai thành thật, tôi xét hồ sơ rồi thả anh ra. Hai là nếu anh ngoan cố thì tôi thủ tiêu anh ngay, không có tòa án pháp luật xét xử gì cả (4). Anh liệu hồn đấy! Tên D. nói vừa dứt lời, thì một tên mật vụ khác cầm một thanh củi dài đánh vào người tôi liên tiếp.

 

Mặc cho hắn nói gì thì nói, miệng tôi khô lại, tôi ráng hết sức để nói với tên D.

 

- Tôi khát nước quá, xin ông cho tôi ly nước.

 

Hắn mỉm cười một cách nham hiểm:

 

- À uống nước hả, tí nữa tao cho uống!

 

Nói xong, hắn ra lệnh cho một tên khác đưa tôi sang phòng bên cạnh. Giữa cái phòng này có kê một cái bàn lớn, hai bên là hai chiếc ghế dài. Trong góc phòng, có để một bình điện và vô số củi khúc. Hắn dẫn tôi sang đấy, trao cho tôi một tấm giấy trắng và một cây bút nguyên tử, hắn bảo tôi làm bản tự khai.

 

 

                                                                              "TỔNG THỐNG ĂN MẮM RUỐC"

 

Trong khi tôi ngồi làm bản tự khai, thì dưới sân có tiếng xe hơi đỗ, tiếng người xôn xao. Những tiếng chửi giọng Huế, tiếng giày đá vào người và tiếng kêu rên.

 

Một lúc sau, năm sáu tên Mật vụ dẫn một thanh niên trạc 20 tuổi, khoẻ mạnh. Chúng đưa vào phòng điều tra có treo sọ người (5). Chừng năm phút sau, thì có tiếng những thanh củi nện vào người, tiếng kêu thất thanh, tiếng chửi rủa. Tôi không thể nào làm xong được tờ khai. Những tiếng kêu này và hình ảnh tra tấn dã man kia ám ảnh làm tim tôi ghê rợn.

 

Có tiếng hỏi:

 

- Tại sao mày lại nói thế?

 

- Thưa ông, tôi có nói gì đâu.

 

-Sáng ngày 11.11 mày nói gì? Có phải mày nói "Tổng Thống ăn mắm ruốc" không? (6)

 

Tiếng người thanh niên van nài:

 

- Dạ có, tôi có nói!

 

- Tại sao mày nói vậy? Đ.m. tao đánh cho mày biết.

 

Thế là những thanh củi tới tấp đập vào người kêu đôm đốp, tiếng rên xiết kêu la lại nổi lên.

 

Bỗng có tiếng hét to:

 

- Tôi nói "Tổng Thống ăn mắm ruốc" mà sao các ông lại đánh tôi.

 

Lính nhảy dù vây dinh Độc lập, không ai đi chợ được, thì phải ăn mắm ruốc chứ sao. Bộ ăn mắm ruốc xấu xa gì mà các ông lại đánh tôi!

 

Mặc cho kêu gào, những thanh củi cứ vẫn tiếp tục đập. Lúc đó mặc dù tôi đau đớn ê chề cả thể xác lẫn tinh thần, nhưng khi nghe tiếng người thanh niên nọ thốt ra những lời trên, tôi cũng bật cười.

 

Cuộc tra khảo tiếp tục, Người thanh niên mỗi lúc càng hét to. Tiếng kêu thét lên rồi tắt ngang. Từ đó về sau, tôi chỉ còn nghe tiếng rên, và những tiếng thanh củi đập vào thân thể anh ta. Dường như thanh niên đó đã kiệt sức.

 

Bấy giờ tên D. từ phòng điều tra đi sang. Hắn đến đứng sau lưng tôi, hắn nhìn tập giấy trắng để trên bàn, trong lúc tôi vẫn chống hai tay lên mặt bàn. Hắn cầm tập giấy lên giở qua giở lại rồi vứt xuống. Sau đó là những báng súng từ tay hắn đập túi bụi vào ót, và tai tôi. Hắn hét to:

 

- Thằng này cứng đầu không chịu khai. Tr. Đâu cho nó uống nước đi. Mới nghe tôi mừng thầm, vì mình đang khát nước mà được uống thì còn gì bằng. Hai tên Mật vụ hồng hộc chạy sang. Một tên mang một chiếc ghế dài. Một tên khác từ dưới nhà xách lên một thùng nước.

 

Tên D. nắm tai tôi xách lên, và ra hiệu cho tên kia đi theo tôi. Tôi bước vào căn phòng mà bóng tử thần lúc nào cũng quanh quẩn trong óc tôi, một cảnh đầu tiên đập vào mắt tôi, người thanh niên lúc nãy kêu la bây giờ đã nằm bất tỉnh trong một góc phòng.

 

Trong phòng chiếc bàn vuông đã được đẩy vào một góc và thay vào đó chiếc ghế dài đã được kê sẵn, bên cạnh là một thùng nước đầy bọt xà bông, tên D. ra lệnh:

 

- Leo lên, ngửa ra, lúc nãy nói uống nước hả, bây giờ tha hồ cho mày uống. Nói đoạn hắn bắt tôi uống nước xà bông đến phình bụng, rồi cho người đứng trên bụng tôi mà đạp mạnh."

 

(Trích tài liệu "Chín năm máu lửa dưới chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm". Nguyệt Đam và Thần Phong thuật theo lời ông N.C.D, xb tại Sài gòn năm 1964, từ trang 208 đến trang 213).

 

Trần Quang Diệu

 

Ghi chú của Trần Quang Diệu:

 

1) Ngày nay, có những người cũng đã từng đe dọa: "chưa đến ngày trị tội" khi họ đang chửi rủa bất kỳ Giáo hội hay Giáo phái nào của Phật Giáo Việt Nam.

                                     

2) Làm sao có thể loại trừ rằng không có những tên mật vụ như vậy ngày nay đang ở đâu đó, luôn tiếp tục quen thói hung dữ là sẵn sàng mắng chửi lại bất cứ ai mỗi khi người ta dám đụng đến chế độ Ngô Đình Diệm "anh minh" mà một thời họ là những tay sai !?

 

3) Ôi! Đó là "Thiên Chúa lòng lành vô cùng" của một lãnh tụ, gọi là "đại anh hùng dân tộc" ở vị trí từng là ông thầy tu Ngô Đình Diệm, mà, ngay lúc làm tổng thống, ông đang có một bàn thờ Chúa trong dinh Độc Lập để hằng ngày ông cầu nguyện?

 

4) Chế độ Đệ nhất Cộng hòa "công bằng bác ái", luật pháp nghiêm hành, văn minh tiến bộ là như vậy đó hay sao? Bảo đảm, nếu không được phép dung dưỡng bởi anh em ông Diệm, ông Nhu thì đố ai dám phát ngôn cẩu thả, bất cần luật pháp đến như vậy.

 

5) Nhằm để khủng bố tinh thần chứ không là gì khác? Thật ngao ngán cho những đứa con nhất thiết đều phải do Chúa sinh ra!

 

6) Cái đó – nói "Tổng thống ăn mắm ruốc" - mà còn bị bắt cóc tra tấn, thì so với những "âm mưu lật đổ vua Tự Đức", quấy rối xã hội, xúi giục giặc ngoại bang đến cướp quê hương xứ sở vào hồi nhà Nguyễn thì làm sao có thể dung thứ? Vậy mà, có một số thì được hãng sản xuất thánh (Vatican) phong cho họ là thành "thánh" ráo trọi. Nhưng, đối với tổ quốc Việt Nam, thì nhất định họ là những tội đồ dân tộc, là thành phần phản dân hại nước. Còn đối với tòa thánh Vatican La mã, thì hễ ai trở thành thần dân của họ, "làm theo đức vâng lời", nghĩa là phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của họ, đem lại sự lợi ích cho họ mà bị lâm nạn thì họ xúc tiến thủ tục, gạn lọc công trạng, thành quả để rồi phong lên hàng thánh. Như thế, thật là nhục nhã cho những ai khi biết rằng mình là con cháu của vua các Hùng.


Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi. Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.
Nhà cầm quyền cộng sản, hơn lúc nào hết, luôn buộc người dân lo nghĩ đến chuyện miếng ăn, cái mặc. Cái bụng lúc nào cũng phải cảm thấy còn đoi đói, chưa no. Và người dân thì thiếu thốn nhu yếu phẩm, lo chạy gạo từng bữa. Ðủ hôm nay thì thiếu ngày mai, hay được nồi cơm sáng, thì lại chưa có nồi cơm chiều. Cuộc đời cứ quần quật lo đói rách như thế, thì xin hỏi, còn chi thì giờ mà nhân dân nghĩ đến tranh đấu, hoặc đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền?
Cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh từng dạy: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường. Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi”.
"The religion of the future will be a cosmic religion. The religion which is based on experience, which refuses dogmatism. If there's any religion that would cope with modern scientific needs it will be Buddhism." Albert Einstein

Tôn giáo trong tương lai sẽ là tôn giáo của vũ trụ. Tôn giáo này dựa trên kinh nghiệm và không chấp nhận chủ nghĩa giáo điều. Nếu có một tôn giáo nào tương thích với khoa học hiện đại, đó chính là Phật Giáo.




Bạn Ơi Hãy Cùng Nhau Đấu Tranh Cho Cuộc Sống Của Mình & Tương Lai Của Con Cháu Mình !!!



Nhân Dân Cần Nhận Diện Bộ Mặt Thật Của Giới Cầm Quyền. Phải Hành Động Cụ Thể Đối Với Bọn Chúng !!!



Chỉ Mặt, Nhận Diện Bọn Cán Bộ Óc Đất, Lũ Công An Lưu Manh, Đám Quan Chức Tham Nhũng, Tay Sai !!!

Công Nhân Bị Đánh Đập Tàn Nhẫn, Dã Man !!!


Followers