19 September 2009

Chế độ ba lá


Chính thống chính trị của Ba Đình là chính thống ba lá.
Tam quyền phân lập của Ba Đình là tam quyền ba lá.
Hiến pháp của Ba Đình là hiến pháp ba lá.

Một chế độ tồn tại nhờ ma thuật bài ba lá, chế độ đó không thể sửa sai,
chế độ đó chỉ có thể bị lật đổ.


Đỗ Thái Nhiên



Bài ba lá là kiểu chơi bài chỉ có ba lá bài. Với ba lá bài kia người chủ cái dùng xảo thuật của đôi bàn tay để đưa các con bạc vào mê hồn trận: nhìn lá bài đen tưởng là trắng, nhìn lá bài đỏ tưởng là đen…cứ như vậy mà cháy túi. Từ đó bài ba lá trở thành thuật ngữ mô tả những hành động dối gạt người khác một cách tinh vi. Tinh vi đến độ “nạn nhân” không hề hay biết là họ đang bị dối gạt.

Guồng máy thông tin tuyên truyền của CSVN thường xuyên tự nhận họ là chế độ bao giờ cũng “hiếu với dân”, bao giờ cũng tôn vinh người dân ở vị trí cao cấp nhất: Nhân dân làm chủ tập thể, hội đồng nhân dân, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, công an nhân dân, ngân hàng nhân dân… Câu hỏi đặt ra là: Đằng sau những chữ nhân dân lộng lẫy kia, liệu chừng nhân dân có bị cài đặt để phải sống “vô tư” dưới chế độ độc tài được nguỵ trang bằng kỹ thuật của bài ba lá hay không? Bài viết này trả lời câu hỏi vừa nêu bằng cách phân tích và đánh giá chế độ Hà Nội thông qua các kỹ thuật pháp lý, chính trị khác nhau.


1) Chế độ Hà Nội có hay không tính chính thống?


Chính thống là dòng chính, dòng thực. Đất nước là của toàn dân. Toàn dân là chủ nhân ông duy nhất và tối cao của đất nước. Tính chính thống của một chế độ chính trị đòi hỏi chế độ đó phải được người dân minh thị uỷ nhiệm cho họ quyền được thay mặt người dân để điều hành công việc quốc gia. Uỷ nhiệm minh thị có nghĩa là bằng vào thủ tục bầu cử và ứng cử hoàn toàn công bằng, tự do, dân chủ, người dân sử dụng lá phiếu để bầu chọn ra nhà cầm quyền. Chế độ Hà Nội từ ngày cướp được chính quyền năm 1945 cho tới nay đã liên tục thực hiện những cuộc bầu cử theo kiểu: Đảng cử, công an kềm kẹp, dân bầu. Bầu cử như vậy gọi là bầu cử bài ba lá. Chế độ Hà Nội hiển nhiên là chế độ phi chính thống, chế độ chính thống ba lá.


2) Hành chánh công quyền của chế độ Hà Nội:


Những kẻ gian dối bao giờ cũng tìm cách tạo ra một vẻ bề ngoài quang minh chính đại. Hành động như vậy được người Việt Nam gọi là vừa đá banh vừa thổi còi. Mục tiêu hàng đầu của thể chế tự do dân chủ là nỗ lực triệt tiêu tệ nạn vừa đá banh vừa thổi còi. Muốn vậy, guồng máy công quyền dân chủ bao giờ cũng hình thành trên ba trụ cột: hành pháp, lập pháp, tư pháp. Ba trụ cột này hợp tác với nhau trong điều hành công việc quốc gia nhưng hoàn toàn độc lập và tuyệt đối bình đẳng. Sự việc này khẳng định: một người, một đảng không thể vừa làm ra luật (Quyền Lập Pháp), vừa thi hành luật (Quyền Hành Pháp), vừa trừng phạt chính mình nếu mình vi phạm luật pháp (Quyền Tư Pháp). Về mặt hình thức, CSVN có đầy đủ tam quyền; hành pháp do thủ tướng đứng đầu, lập pháp là quốc hội CSVN, tư pháp là hệ thống toà án nhân dân. Thế nhưng trong thực tế: do bầu cử kiểu bài ba lá và nhất là do sự khẳng định của điều 4 hiến pháp 1992, cả ba quyền hành pháp, lập pháp, và tư pháp tại Việt nam từ nhiều thập niên qua đều nằm gọn trong tay của đảng CSVN. Đó là lý do căn bản nhất giải thích tại sao CSVN không thể và không muốn tận diệt quốc nạn tham ô. Đó còn là lý do dẫn đến kết luận: chế độ Hà Nội đang thống trị đất nước theo mô hình hành chánh công quyền bài ba lá.


3) Hiến pháp 1992 của CSVN:


Hiến pháp là văn kiện luật pháp tối cao của quốc gia. Bên dưới hiến pháp là đạo luật, sắc luật, sắc lệnh, pháp lệnh, quyết định, nghị định v. v… gọi chung là luật pháp. Hiến pháp chỉ đạo mục tiêu mà luật pháp phải phục vụ. Hiến pháp quy định những phương pháp pháp lý mà luật pháp có thể vận dụng. Hiến pháp lãnh đạo luật pháp. Luật pháp không được quyền chống lại hoặc làm cho hiến pháp bị đông lạnh.

Hiến pháp 1992 của CSVN lớn tiếng đề cao và mạnh mẽ cam kết: bảo vệ và phát triển mọi quyền tự do của con người. Thế nhưng đi vào thực tế, hiến pháp 1992 chỉ là một tảng đá bất động đối với nhân quyền và công dân quyền. Phương pháp Hà Nội đã sử dụng để làm cho hiến pháp hoá đá xin được giải bày như sau: Đi kèm theo mỗi điều luật hiến pháp tuyên xưng nhân quyền, CSVN lại cài đặt một ghi chú rằng quyền này sẽ do luật quy định. Tiếp đó, luật quy định có nhĩa là CSVN dùng luật rừng để chà đạp nhân quyền. Xin hãy khảo sát một vài điều luật của hiến pháp 1992 để giúp cho câu chuyện hiến pháp hoá đá trở nên dễ hiểu hơn:

Điều 54: Công dân không phân biệt dân tộc, nam,nữ, thành phần xã hội…đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào quốc hội, hội đồng nhân dân theo quy định của luật pháp.

Sau đây là ý nghĩa của điều được gọi là theo quy định của luật pháp: công dân chỉ được quyền ứng cử vào quốc hội và các hội đồng nhân dân, nếu được sự cho phép của Mặt Trận Tổ Quốc, mặt trận này là tay chân của đảng CSVN. Như vậy rõ ràng là luật quy định hiến pháp chứ không phải hiến pháp quy định luật.

Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của luật pháp.

Tự do báo chí là dân quyền trọng yếu ghi ở điều 69. Câu hỏi kế tiếp là: Luật của CSVN đã làm gì để biến điều 69 thành hoạt động cụ thể của Xã hội? Thưa rằng ngày 29/11/2006, bằng chỉ thị số 37, ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN, đã ban bố quyết định tuyệt đối cấm tư nhân tức là cấm quần chúng Việt Nam làm báo dưới bất kỳ hình thức nào. Rõ ràng là chỉ thị 37 ngồi xổm trên điều 69 của hiến pháp CSVN.

Bây giờ chúng ta hãy xét tới điều 17 nói về quyền tư hữu của người dân.

Điều 17: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, , thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lãnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỷ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà luật pháp quy định là của nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 17 là sự xác nhận: luật CSVN quy định tất cả tài sản có được từ đất nước Việt Nam và con người Việt Nam đều là “của nhà nước”, tức là của đảng CSVN. Ngừơi dân chỉ được hiến pháp CS phong lên làm ông chủ lớn bằng nhóm chữ: “Sở hữu toàn dân”. Nhóm chữ này hoàn toàn rỗng tuếch, vô nghĩa.


Như vậy, hiến pháp 1992 có ba đặc điểm:

1) Pháp chế dân chủ đòi hỏi hiến pháp phải lãnh đạo các loại luật. Hiến pháp 1992 đã dùng nhóm chữ “Theo quy định của luật pháp” để nhường ngôi cai trị đất nước cho luật rừng của CSVN.

2) Luật pháp CSVN quy định rất chi tiết cho đảng CSVN tất cả những quyền và những lợi mà một chế độ độc tài tham ô có thể thâu tóm được.

4) Tất cả những gì thuộc về quyền và lợi của người dân, nhất là quyền tư hữu và quyền dân chủ đều bị hiến pháp 1992 tước bỏ dưới nhãn hiệu “theo quy định của luật pháp”

Đọc hiến pháp CSVN, ngừơi đọc mừng rở khi thấy mọi quyền dân chủ nhân quyền của người dân đều được tôn xưng. Thế nhưng qua đến màn “theo quy đinh của luật pháp” thì toàn bộ những quyền hành kia đều bị hạ bệ triệt để. Không còn nghi ngờ gì nữa: hiến pháp 1992 đích thực là hiến pháp bài ba lá.

Tóm lại:

Chính thống chính trị của Ba Đình là chính thống ba lá.
Tam quyền phân lập của Ba Đình là tam quyền ba lá.
Hiến pháp của Ba Đình là hiến pháp ba lá.

Một chế độ tồn tại nhờ ma thuật bài ba lá, chế độ đó không thể sửa sai, chế độ đó chỉ có thể bị lật đổ.


Đỗ Thái Nhiên


18 September 2009

Ðiều lo nhất về Trung Quốc


Ngay bây giờ, nhiều người Trung Hoa ở lục địa nói thẳng, các công ty Trung Quốc vẫn còn chú ý đến thị trường Việt Nam một chút. Vì họ coi đó là một nơi để “đổ rác”, tức là những sản phẩm thiếu tiêu chuẩn không được thị trường thế giới chấp nhận. Chính người Trung Hoa có tiền cũng không muốn mua những sản phẩm tiêu chuẩn thấp đó. Các xí nghiệp Trung Quốc sẵn sàng bán đổ bán tháo (dumping) những món hàng này sang Việt Nam, vì nếu không cũng vứt bỏ đi. Vì vậy, bán giá nào cũng được; mà người Việt Nam thấy rẻ thì vẫn ham mua.

Ngô Nhân Dụng



Có bảy triệu người Việt Nam đã vào mạng lưới của nhóm trí thức chống việc các công ty Trung Quốc khai thác bô xít (bauxite). Người Việt ở trong và ngoài nước đều lo lắng về vụ này. Không biết đến lúc nào những người chủ trương mạng lưới đó sẽ bị bắt, như các ông Ðiếu Cày và Người Buôn Gió.

Người Việt Nam cũng lo lắng về chủ trương bành trướng của Trung Quốc ở biển Ðông. Tờ Tuổi Trẻ tại Sài Gòn mới thuật lại cuộc chiến đấu của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chống quân Trung Quốc chiếm Hoàng Sa vào Tháng Chín năm 1974. Trên các mạng lưới đang truyền nhau những tin tức về việc Trung Quốc phát triển hải quân và so sánh lực lượng giữa nước này với nước Mỹ ở vùng Á Ðông.

Các hiện tượng trên cho thấy hai mối lo lớn của người Việt trước mối đe doạ của nước láng giềng phía Bắc. Một là Trung Quốc đang củng cố sức mạnh quân sự, họ có thể tái diễn những cuộc xâm lăng Việt Nam như vào thế kỷ 15 và 18 hay chăng? Hai là một “diễn biến hòa bình”, đang biến nước Việt Nam thành mảnh đất cho người Trung Quốc khai thác mà không cần phải xâm chiếm. Họ chỉ cần nắm đầu được một đảng độc tài là có thể sai bảo cả công an lẫn quân đội để dẹp tan những đám dân Việt phản đối.

Nhưng thực sự đâu là mối lo lâu dài và lớn nhất của dân tộc Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Bắc Kinh?

Một người bạn tôi mới trở về Mỹ sau nhiều chuyến đi Tàu có một nhận định khác. Theo anh, những vụ Hoàng Sa, Trường Sa và bô xít chỉ là chuyện trước mắt và ngắn hạn. Mối lo dài hạn cần chú ý là trong lúc người Trung Hoa đang quyết tâm tiến tới trên con đường cải tổ để bước vào thế kỷ 21 thì người Việt Nam vẫn bị lúng túng không thoát ra khỏi tình trạng lạc hậu còn rơi rớt từ thế kỷ 19. Cứ như vậy thì trong một hai thế hệ nữa người mình sẽ trở thành lệ thuộc, nếu không phải là “nô lệ” cho người Trung Hoa; dù họ không đem quân chiếm nước mình, dù mình vẫn còn tên nước Việt Nam, vẫn có một chính phủ người Việt cai trị dân Việt. Trung Quốc sẽ làm chủ, người Việt làm công, và điều đáng buồn là cả thế giới coi đó là chuyện tự nhiên không cần can thiệp. Vì trong thế cạnh tranh sinh tồn hiện nay, dân tộc nào yếu thì sẽ đóng vai làm công cho dân tộc mạnh.

Tại sao có thể xẩy ra tình trạng đó? Anh Trần là người quốc tịch Mỹ, công ty anh đang đầu tư ở Trung Quốc làm một sản phẩm mới, sản phẩm này đang thông dụng rồi sẽ tràn ngập khắp thế giới trong vài chục năm nữa, chúng tôi xin phép không nói rõ hơn để khỏi làm phiền cho bản thân anh. Những cuộc gặp gỡ với quan chức và cán bộ quản lý kinh doanh ở Trung Quốc làm cho một người Việt như anh phải thấy sợ. Người Trung Quốc họ làm việc ào ào, mở rộng cửa đón tư bản nước ngoài để tiếp nhận các kỹ thuật mới, học cách tấn công các thị trường mới. Anh Trần so sánh giới quan chức, cán bộ Trung Quốc khác những người ở Việt Nam: Họ có ăn nhưng cũng có làm việc. Trong khi ở nước mình thì không lo công việc mà chỉ biết ăn. Công ty của anh đã thăm dò việc đầu tư ở Việt Nam mấy năm trước đây; nhưng phải bỏ ý định đó vì cả guồng máy cai trị từ trên xuống dưới vẫn coi người ngoài quốc đến nước mình đầu tư là đến “xin ân huệ” chứ không phải đem đến cho dân mình kỹ thuật mới, mở mang cho nước mình những ngành hoạt động mới. Có lẽ họ coi thường đồng bào người Việt mà chỉ biết kính trọng các ông chủ ngoại quốc. Nhưng họ vẫn giữ một thói quen: Chỉ lo bòn rút cho bản thân mình, không cần đến công việc.

Ở Trung Quốc thì khác. Từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, họ chiều đãi các công ty ngoại quốc đến đầu tư. Họ sẵn sàng cung cấp đất để mở cơ xưởng mà không lấy tiền thuê đất trong nhiều năm. Họ sẵn sàng góp một phần vốn nhỏ hơn 50% và người ngoại quốc đầu tư có quyền mua lại số cổ phần đó trong tương lai. Nghĩa là nếu công việc thất bại thì người ngoại quốc chỉ mất ít, là phần vốn đã bỏ vô dưới 100%; mà nếu thành công thì vẫn có hy vọng hưởng nhiều hơn bằng cách mua lại các cổ phần của người Trung Quốc. Một viên chức trẻ tuổi ở Bắc Kinh nói thẳng rằng anh ta có một quỹ đầu tư hàng tỉ Mỹ kim, lấy trong số ngoại tệ dự trữ hơn 2,000 tỉ của ngân hàng trung ương; và anh ta có quyền chi vào các dự án đầu tư với người nước ngoài.

Họ có tham nhũng hay không? Anh Trần thấy chắc là phải có. Thế nào họ cũng chấm mút khi được quyền sử dụng những món tiền lớn như vậy. Cứ xem cách ăn ở, giao dịch của họ thì biết. Nhưng có một điều là họ có làm, làm việc thực sự, một dự án nhà máy được hai bên đồng ý và chấp thuận rồi, ba tháng sau nhà máy đã được khánh thành. Họ chạy hối hả, và họ biết rõ đang muốn gì: Sản xuất để xuất cảng. Du nhập kỹ thuật mới, phương pháp quản lý mới, phương pháp mới để chinh phục thị trường thế giới như các công ty Mỹ đang làm. Sang năm 2010 hội chợ Thượng Hải sẽ trưng bày những sản phẩm mới cho cả thế giới thấy, trong đó sẽ có những sản phẩm của công ty anh Trần đang làm.

Họ coi anh Trần là người Mỹ, và nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên lúc đầu khi anh tự giới thiệu là gốc người Việt Nam. Họ tỏ ra lễ phép với anh, nhưng không ngần ngại cho thấy là họ coi thường người Việt Nam. Ðây là một điều đau lòng, nhưng anh phải nói thật: Người Trung Hoa vẫn còn nhắc đến vụ đảng Cộng Sản Việt Nam “vô ơn bạc nghĩa” khi sau năm 1975 quay theo Nga để chống Tàu. Họ nhắc lại sự kiện này như để giải thích thái độ của họ: Khinh thường người Việt Nam! Chúng ta có thể thấy trong những mạng lưới bên Tàu khi họ công khai phổ biến những tài liệu chứng tỏ nếu không có quân đội Tàu giúp thì người Việt Nam không chống nổi Pháp mà cũng không đánh nổi Mỹ! Họ không ngần ngại sẵn sàng nói những lời miệt thị tất cả giới lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam, dù trước mặt một người Việt như anh Trần họ vẫn tỏ ra lịch sự, tôn kính. Ngay bây giờ, nhiều người Trung Hoa ở lục địa nói thẳng, các công ty Trung Quốc vẫn còn chú ý đến thị trường Việt Nam một chút. Vì họ coi đó là một nơi để “đổ rác”, tức là những sản phẩm thiếu tiêu chuẩn không được thị trường thế giới chấp nhận. Chính người Trung Hoa có tiền cũng không muốn mua những sản phẩm tiêu chuẩn thấp đó. Các xí nghiệp Trung Quốc sẵn sàng bán đổ bán tháo (dumping) những món hàng này sang Việt Nam, vì nếu không cũng vứt bỏ đi. Vì vậy, bán giá nào cũng được; mà người Việt Nam thấy rẻ thì vẫn ham mua. Nhưng đối với Trung Quốc, Việt Nam không đáng quan tâm. Họ lo chinh phục cả thế giới, và chỉ tôn trọng những nước có lực, có tiền!

Nhưng điều anh Trần lo lắng muốn chia sẻ với chúng tôi khi anh trở về Mỹ sau nhiều chuyến đi Tàu lo công việc, là người Trung Hoa họ quyết tâm tiến bộ thật, trong khi nước mình vẫn lúng lúng vì cả guồng máy cai trị tham nhũng và bất lực. Anh nhắc lại nhiều lần: Chúng nó cũng ăn, nhưng chúng nó có làm việc thật. Quan chức Việt Nam thì chỉ lo ăn mà không cần làm! Trong vài chục năm nữa, trong nửa thế kỷ nữa, người Tàu sẽ tiến xa, khoảng cách phát triển giữa hai dân tộc sẽ càng ngày càng rộng. Và lúc đó mình sẽ hoàn toàn đóng vai một nước phụ thuộc, nếu không nói là lệ thuộc, biến thành một thị trường và người làm công cho cường quốc kinh tế lớn nhất nhì thế giới ở ngay bên láng giềng!

Hiện nay người Việt chúng ta coi việc khai thác bô xít ở Tây nguyên là một cuộc xâm lăng kinh tế đe doạ chủ quyền đất nước. Nhưng đối với người Trung Hoa ở lục địa thì đó cũng chỉ là một dự án nhỏ trong hàng ngàn dự án đầu tư để khai thác tài nguyên khắp thế giới, từ Á Châu sang Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh. Họ cũng sang Congo, sang Sudan khai thác quặng mỏ. Họ đầu tư vào dầu khí ở các nước Trung Á, ở Canada. Các công ty Trung Quốc đang đi mua cổ phần của các công ty tiên tiến nhất từ Âu Châu sang Mỹ Châu, dù chỉ một phần nhỏ. Một vụ nổi tiếng là dự án của Chinalco tính bỏ ra 19 tỉ rưỡi để tăng gấp đôi phần hùn trong công ty Rio Tinto ở Úc lên 18%, đã bàn cãi cả năm và mới bị Úc gạt bỏ vào Tháng Sáu vừa qua.

Trung Quốc là thị trường lớn nhất mua quặng mỏ của Úc. Nhưng chính phủ Úc vẫn không cảm thấy sợ sệt lo làm vui lòng chính quyền Trung Quốc. Ông thủ tướng Úc nói tiếng Tàu thông thạo, nhưng không ngần ngại tỏ ra bất cần trước những áp lực của Bắc Kinh. Trước khi ông Nguyễn Minh Triết sang Úc, một người đã được dân Úc tiếp đón là bà Rebiya Kadeer, một người gốc Uighur đang sống ở Mỹ và đang bị bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh mô tả là người thúc đẩy dân Uighur ở Tân Cương nổi loạn. Ðầu Tháng Tám, khi nghe tin dân Úc sắp mời bà Kadeer sang dự một liên hoan phim ảnh tại Melbourne trong đó chiếu một cuốn phim về cuộc đời tranh đấu của bà, Ngoại Trưởng Trung Quốc Hà Á Phi đã bãi bỏ một chuyến viếng thăm để tỏ ý phản đối. Chính phủ Tàu còn làm áp lực với ban tổ chức yêu cầu họ ngưng chiếu cuốn phim đó. Họ cũng làm áp lực lên thị trưởng thành phố Melbourne, đòi bãi bỏ việc kết nghĩa giữa thành phố này với Thiên Tân. Và họ làm áp lực cả với câu lạc bộ Báo chí Quốc gia tại thủ đô Canberra không muốn họ mời bà Kadeer đến diễn thuyết. Nhưng tất cả các áp lực đó đều vô hiệu. Và bên cạnh những la lối ồn ào đó, các bộ trưởng hai nước vẫn ký một hợp đồng, công ty PetroChina Trung Quốc mua 41 tỉ Mỹ kim khí đốt của công ty Exxon Mobil tại Úc. Dân Úc chống, cứ chống. Chính phủ Trung Quốc không bằng lòng thì rán chịu.

Trong lúc chính quyền Úc bình tĩnh và cứng rắn đối với Trung Quốc như vậy, thì ở Việt Nam những ai bày tỏ ý kiến chống đối việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa trước sau đều bị đàn áp. Ðàn áp để làm gì? Có phải vì công an bắt người Việt Nam không được mặc áo phông viết chữ bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa mà chính quyền Bắc Kinh tử tế hơn với nước Việt Nam, với đảng Cộng Sản Việt Nam hay không?

Mà trong lúc chính quyền Cộng Sản chỉ lo đàn áp dân như thế, người Trung Hoa họ vẫn tiến tới. Thế giới sẽ không thèm quan tâm đến chủ quyền của Việt Nam trên những vùng đất và biển đã bị chiếm. Vì nước nào lo quyền lợi của nước đó, không ai lo giúp chuyện người ngoài, dân tộc nào cố giữ lấy chủ quyền của mình. Bây giờ người Trung Quốc đã bắt đầu sang Việt Nam đóng vai ông chủ ở Cao Bằng, Lạng Sơn; cho người Việt đóng vai làm công và chạy việc. Anh Trần lo sẽ có ngày chính người Trung Quốc cũng không thèm đóng vai ông chủ nhỏ ở Việt Nam nữa. Vì họ còn lo đầu tư ở những nơi sinh lợi hơn và lo đi chinh phục các thị trường khắp thế giới.

Vậy thì người Việt Nam chúng ta phải làm gì? Ðây là một câu hỏi để mọi người Việt cùng suy nghĩ và thảo luận. Bởi vì dân Việt Nam không phải là dân hèn. Hãy coi mối lo lắng của anh Trần là tiếng chuông báo động.


Ngô Nhân Dụng


17 September 2009

Quan-Điểm Về Đảng-Phái Và Môi-Trường Tranh-Đấu





Đã gần 35 năm tranh-đấu, giờ đây không còn thời giờ để thảo-luận vu-vơ, không còn thời giờ để chú-tâm vào những công việc lý-thuyết xa-vời của một đảng-phái chánh-trị, không còn thời giờ để phê-phán kẻ hay người dở, đổ lỗi cho nhau, chen-lấn để tranh quyền lãnh-đạo và chỉ-trích nhau một cách bừa-bải, mà nhu-cầu hiện tại chính là làm sao và làm cách nào để lật đổ chế-độ cai-trị của bạo-quyền hiện-hữu để sớm quang-phục lại quê-hương.
Cuộc tranh-đấu nào cũng vậy, để có thể đạt được mục-tiêu, điều kiện tiên-quyết là phải có chánh-nghĩa và quyết-tâm, nhưng đối với người trong nước, vì vừa tranh-đấu vừa bảo-vệ sự sinh-tồn, nên về hình-thức không thể làm giống như việc làm của tập-thể Người Việt Quốc-Gia ở hải ngoại được. Điều nầy cần phải được nghiên-cứu và phân-tách tường-tận, kỹ-lưỡng từng công việc. Không nên thấy họ làm điều gì không đúng như ý mình thì lớn tiếng nặng lời.

Thanh-Thủy


I.- Nhận-Định:


Trong một quốc-gia, có thể có nhiều chánh-đảng hoạt-động, dù hoạt-động công-khai hay bí-mật, nhưng mỗi chánh-đảng đều chỉ có một số đảng-viên giới-hạn, và lý-thuyết, chánh-sách của mỗi đảng dù có hay và hấp-dẫn đến thế nào đi nữa cũng chỉ giới-hạn ở một số người nào đó mà thôi. Đó là những người mà mỗi chánh-đảng có thể huy-động được một cách tương-đối tích-cực cho nhu-cầu mà chánh-đảng đó đòi-hỏi. Vì vậy, những đội-ngũ nầy chỉ tiêu-biểu cho một thành-phần nào đó trong xã-hội chớ không thể là tiêu-biểu cho một quốc-gia.

Vì thế, thông thường một chánh-đảng hay một đoàn-thể áp-lực trong xã-hội không thể thực-hiện nổi việc lật-đổ một chánh-quyền đương-hữu để thay thế bằng một chánh-quyền khác, và càng khó có thể làm nổi nếu chánh-quyền đương-hữu là một chánh-quyền độc-tài toàn-trị như bạo-quyền Việt-cộng ngày nay.


II.- Những thí-dụ lịch-sử:


1.- Năm 1945, và năm 1954 để chuẫn-bị cướp chánh-quyền và chia đôi đất nước, Hồ-Chí-Minh cũng phải dùng thủ-đoạn kết-hợp các đảng-phái lại với nhau, nhờ đó ông ta mới khích-động được lòng yêu nước và sự đóng-góp của toàn dân qua phong-trào Việt-Minh để huy-động mọi giới đồng-bào hầu đáp-ứng cho nhu-cầu tranh-đấu thời đó.
Sau khi cướp được chánh-quyền, Hồ-Chí-Minh mới thật sự dùng đảng để cai-trị và áp-dụng đường-lối và chánh-sách của đảng Cộng-sản quốc-tế để tiêu-diệt tất cả mọi thành-phần quốc-gia, mọi chánh-đảng khác một cách triệt-để để được rãnh tay thi-hành chánh-sách riêng của họ.

2.- Năm 1963, Phong-trào Phật-Giáo đứng lên tranh-đấu chống lại chánh-phủ Đệ Nhứt Cộng-Hòa cũng vậy. Tuy Phật-Giáo có đông-đảo tín đồ khắp nước, nhưng một mình cũng không thể giật sập nổi một chánh-quyền đang cai-trị mà phải liên-kết với các đảng phái khác và với quân-đội mới đạt được thành-công.

3.- Cuộc chiến năm 1975 cũng không ra ngoài nguyên-tắc đó, Hồ-Chí-Minh cũng phải dùng chiêu-bài Mặt-Trận Dân-Tộc Giải-Phóng Miền Nam của Nguyễn-Hữu-Thọ mục-đích để lôi kéo những thành-phần không Cộng-sản tham-gia. Bởi vậy, trong suốt quá-trình 20 năm của mặt-trận nầy, trong chánh-sách tuyên-truyền, không bao giờ họ dám nói mặt-trận nầy là do đảng Cộng-sản lãnh-đạo.

Những điều nầy cho chúng ta thấy rằng, muốn lật đổ một chế-độ đang cai-trị, dù cho một đảng mạnh đang cai-trị nửa nước như đảng Cộng-sản miền Bắc và dù được các nước trong thế-giới Cộng-sản hết lòng yễm-trợ, họ vẫn khó có thể thành-công mà cần phải có sự tham-gia của nhiều thành-phần khác trong xã-hội thì mới có được một thế-lực đủ mạnh để đạt mục-tiêu mà họ theo đuổi.

Do đó, chúng ta có thể nói mà không sợ sai-lầm là sự thành-bại trong công-cuộc tranh-đấu hiện nay để lật đổ chế-độ độc-tài Cộng-sản, tất cả đều tùy-thuộc vào sức mạnh của toàn-dân. Khi nào toàn-dân đứng dậy thì bạo-quyền dù có tàn-ác đến đâu cũng đều phải sụp-đổ.

Người Cộng-sản rất am-tường điều nầy, cho nên trong việc cai-trị đất nước, họ dùng chánh-sách kiểm-soát gắt-gao đối với nhân-dân trong tất cả mọi sinh-hoạt hàng ngày, cấm lập hội, cấm tự-do báo-chí, kiểm-soát mọi sự đi lại, công-an phường khóm luôn luôn rình-mò, theo-dỏi từng người trong khu-vực, tung cán-bộ chìm nổi vào nằm vùng ở những nơi có thể tập-trung nhiều người như những cơ-sở các Tôn-Giáo, thành-lập những giáo-hội quốc-doanh để làm suy-yếu các giáo-hội chân-chánh và cô-lập những vị chân-tu, v.v… Sau cùng là bạo-quyền lúc nào cũng sẳn-sàng đàn-áp một cách thô-bạo, để khủng-bố không nương tay bất cứ một manh-nha nào mà chúng nghi-ngờ có thể tạo bất-an cho chánh-sách cai-trị của chúng, dù là phát-xuất từ tư-tưởng một cá nhân như Nguyền-Văn-Đài, như Lê-Thị Công-Nhân, v.v… hay một tập-hợp như vụ dân-oan khiếu-kiện, như những vụ tranh-đấu của các Tôn-Giáo, của đồng-bào Tây-Nguyên, v.v…


III.- Những Thực-tế đã qua:


Trong suốt bao nhiêu năm qua, chúng ta thấy mọi cuộc tranh-đấu trong nước đều rất lẻ-loi, không có đồng-minh hưởng-ứng, cho nên tất cả đều bị bạo-quyền đàn-áp tan-hoang một cách dễ-dàng. Trước đây, nhiều lần Phật-Giáo Hòa-Hảo bị đàn-áp thãm-khốc, giáo-hội nầy hoàn-toàn hứng chịu những cay-đắng một mình, không có đồng-minh nào hổ-trợ, đến khi những giáo-hội khác bị bạo-quyền đàn-áp cũng vậy, cũng một mình nhận hết mọi oan-khiên, chết ai nấy chịu. Vì tình-trạng Chết ai nấy chịu” và “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại” nầy cho nên mọi cuộc đấu-tranh đều bị bẻ gãy một cách thật đáng tiếc.

Những cuộc đấu-tranh gần đây của Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhứt trong Nam, của Tòa Khâm-Sứ, Vụ Tam-Tòa ngoài Bắc, vụ Tin-Lành ngoài Trung là những điển-hình nhứt để nói lên mọi sự tranh-đấu đều rất lẽ-loi. Điều nầy nếu cứ như thế thì biết đến bao giờ công cuộc tranh-đấu giải-phóng đất nước mới được thành-công? Biết đến bao giờ đất nước Việt-Nam mới được quang-phục? Biết đến bao giờ nhân-dân Việt-Nam mới hưởng được cuộc sống ấm-no và hạnh-phúc?


IV.- Trách-nhiệm và sự thử-thách


Đã gần 35 năm tranh-đấu, giờ đây không còn thời giờ để thảo-luận vu-vơ, không còn thời giờ để chú-tâm vào những công việc lý-thuyết xa-vời của một đảng-phái chánh-trị, không còn thời giờ để phê-phán kẻ hay người dở, đổ lỗi cho nhau, chen-lấn để tranh quyền lãnh-đạo và chỉ-trích nhau một cách bừa-bải, mà nhu-cầu hiện tại chính là làm sao và làm cách nào để lật đổ chế-độ cai-trị của bạo-quyền hiện-hữu để sớm quang-phục lại quê-hương.

Các lý-thuyết của các đảng-phái như Dân-Tộc Sinh-Tồn, như Dân-Chủ Pháp-Trị, như Tam Dân Chủ-Nghĩa, v.v… Chủ-nghĩa nào cũng dài dòng rất khó hiểu và cũng không ai có điều-kiện để giải-thích đến quảng-đại quần-chúng, những việc nầy chỉ có ích-lợi để tranh-cử thời hậu Cộng-sản chớ thật sự chưa cần-thiết trong lúc nầy.

Bởi vậy, nhu-cầu của công-cuộc tranh-đấu hiện nay là vận-động một sự kết-hợp thật sự cả trong lẫn ngoài nước. Bên ngoài có thể sự kết-hợp sẽ lõng-lẽo, nhưng trong nước sự kết hợp cần phải chặt-chẻ hơn. Sự kết-hợp nầy là điều-kiện cần-thiết để có thể vận-động quần-chúng tranh-đấu, chính là nhiệm-vụ của những người cán-bộ của những đảng-phái, của những tổ-chức chống Cộng còn sinh-hoạt trong lòng dân trong nước. Thành hay bại của việc làm nầy đều tùy thuộc vào sự dấn-thân của họ.

Ngày xưa, Hai Bà Trưng khởi-nghĩa thành-công không do chủ-nghĩa nào hết mà chỉ nhờ vào quần-chúng. Đinh-Bộ-Lĩnh dẹp được loạn 12 sứ-quân cũng nhờ vào quần-chúng. Lê-Lợi thành-công chống quân Minh cũng nhờ vào quần-chúng. Nhà Tây-Sơn dấy nghiệp được cũng nhờ vào sức-mạnh của quần-chúng.

Chính vì thế, Việt-cộng rất sợ quần-chúng nổi dậy, cho nên trong nước thì chúng thẳng tay đàn-áp, ngoài nước thì chúng tung ra hết mặt-trận hỏa mù nầy đến mặt-trận hỏa-mù khác, mục-đích làm cho hậu-phương hải-ngoại phải bận-rộn đối-phó lung-tung, không còn thời-giờ và tiềm-lực để đặt hết trọng-tâm vào sự yễm-trợ cho mặt-trận chánh-yếu trong nước.

Để vận-động cho công-tác vận-động lịch-sử nầy, các đảng-phái chân-chánh có thật tâm với đất nước không có việc làm quan-trọng nào khác hơn là dồn mọi nổ-lực để phát-triễn hàng-ngũ cán-bộ trong nước, trải rộng, xâm-nhập để nghiên-cứu và khai-thác mọi tình-huống.

1.- Tìm hiểu những cá-nhân và những phong-trào tranh-đấu trong nước để phân-biệt giả-chân, tránh sự gài bẫy của bạo-quyền khi có sự móc-nối và hợp-tác.

2.- Khi đã tạo được những sự liên-lạc, làm việc được với những tổ-chức quần-chúng và những tổ-chức tôn-giáo là chúng ta đã ở vào tư-thế trung-gian, sẳn-sàng để nhập cuộc.

Hai công-tác nầy rất quan-trọng, chỉ có những cán-bộ chuyên-môn ở trong nước mới có thể làm được với nhiều hữu-hiệu hơn.

3.- Bất-chợt xãy ra một biến-động ở đâu, chẳng hạn như vụ Toà Khâm-Sứ, vụ Tam Tòa, vụ Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhứt, vụ Tin-Lành ở Tây-Nguyên, vụ Dân Oan Khiếu-Kiện, vụ Phật-Giáo Hòa-Hảo, Cao-Đài, vụ Bauxit chẳng hạn, thì lập-tức những cán-bộ nầy sẽ thông-tin đến tất cả những nơi khác để vận- động cùng nhau tranh-đấu một lượt trên khắp nước.

Nhìn chung, tất cả những cuộc tranh-đấu gần đây của những tổ-chức nói trên đều có cùng chung một mục-đích là đòi lại phần đất đai, nhà cửa, ruộng vườn và tài-sản đã bị bạo-quyền áp-bức và cưỡng-đoạt, cho nên sự kết-hợp tranh-đấu có phần dễ thực-hiện hơn. Bên cạnh đó còn có sự chống-đối của nhân-dân về vấn-đề bạo-quyền bán nước, dâng biển, dâng các hải-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa cho Trung-Cộng cũng như vụ Bauxit ở Tây-Nguyên.

Cho nên, lợi thế của công cuộc tranh-đấu chung không lúc nào bằng lúc nầy, vấn-đề cần nói là các tổ-chức, các đảng-phái có cơ-sở trong nước, từ bấy lâu nay đã làm được những gì? Và đã sẳn-sàng chưa?


V.- Chân-tướng của người cầm súng


Quân-đội Việt-cộng đã được đảng Cộng-sản mua-chuộc bằng cách cho tự-do kinh-doanh, cho nên các cấp chỉ-huy lớn thường được hưởng rất nhiều quyền-lợi qua các cơ-sở quốc-doanh mà họ quản-lý nên buộc họ phải trung-thành với đảng, chỉ lo bảo-vệ đảng chớ không lo bảo-vệ tổ-quốc. Đó là một loại quân-đội ương-hèn nhứt trong lịch-sử của dân-tộc.

Không cần nói đâu xa, để có thể chứng-minh Quân-đội Việt-cộng là một loại quân-đội ương-hèn nhứt trong lịch-sử, người ta có thể so-sánh tinh-thần của những người cầm súng giữa hai miền Nam Bắc ra sao một cách rõ-ràng với những thực-tế hiễn-nhiên mà không cần phải lý-luận dong-dài:

1.- Nhiều Tướng-lãnh và binh-sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa đã chiến-đấu để bảo-vệ đất nước cho đến viên đạn sau cùng và tự-sát ngày 30 tháng 4 năm 1975, để được chết theo vận nước.

Quân-đội Việt-cộng chỉ khoanh tay nhìn khi bọn cầm quyền dâng đất, dâng biển cho ngoại bang và hèn-nhát không có một phản-ứng gì trước thãm-cảnh ngư-dân của mình bị hải-quân Trung-cộng bắn giết bừa-bải trên những vùng biển của đất nước mình.

2.- Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa chống-trả quyết-liệt và chịu chết theo tàu để bảo-vệ hải-đảo Hoàng-Sa năm 1974 khi Trung-cộng đến xăm-lăng.

Hải-quân Việt-cộng không dám lên tiếng khi Trung-cộng ngang-nhiên xăm-lăng toàn-bộ cả Hoàng-Sa lẫn Trường-Sa.

Tuy nhiên, chưa chắc gì đảng Cộng-sản có thể dập-tắt được mọi nổi bất-bình trong lòng những người lính của họ, nhứt là những thành-phần chỉ-huy cấp thấp hơn thường ít được đãi-ngộ xứng-đáng cùng với hàng-ngũ bộ-đội vốn chịu nhiều thiệt-thòi và bạc-đãi. Điều nầy cũng cần được những đoàn-thể và những cán-bộ có trách-nhiệm lưu-tâm.


VI.- Kết-luận


Cuộc tranh-đấu nào cũng vậy, để có thể đạt được mục-tiêu, điều kiện tiên-quyết là phải có chánh-nghĩa và quyết-tâm, nhưng đối với người trong nước, vì vừa tranh-đấu vừa bảo-vệ sự sinh-tồn, nên về hình-thức không thể làm giống như việc làm của tập-thể Người Việt Quốc-Gia ở hải ngoại được. Điều nầy cần phải được nghiên-cứu và phân-tách tường-tận, kỹ-lưỡng từng công việc. Không nên thấy họ làm điều gì không đúng như ý mình thì lớn tiếng nặng lời. Thiết nghĩ làm như vậy chẳng những vô-ích mà nhiều khi còn gây tai-hại cho công việc tranh-đấu chung, dễ-dàng vướng vào bẫy-rập của kẻ thù, vô-tình trở thành những tội-đồ của dân-tộc.

Những nhà tranh-đấu trong nước lúc nào cũng trực-diện với chết-chóc, với tù-tội nên rất gian-khổ và thiếu-thốn đủ mọi bề. Sự dấn-thân của họ là cả một sự hy-sinh to lớn, không ai trong chúng ta xứng-đáng bằng họ.

Tập-thể Người Việt Quốc-Gia ở hải ngoại là một Hậu-Phương an-toàn, có nhiệm-vụ yễm-trợ về trong nước, cho nên cần phải luôn giữ vững thế mạnh và với đội-ngũ của mình trong nước, tin-tưởng rằng, từ nay chúng ta lúc nào cũng sẳn-sàng để đáp-ứng kịp thời khi tình-thế đòi hỏi.


Thanh-Thủy




Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi. Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.
Nhà cầm quyền cộng sản, hơn lúc nào hết, luôn buộc người dân lo nghĩ đến chuyện miếng ăn, cái mặc. Cái bụng lúc nào cũng phải cảm thấy còn đoi đói, chưa no. Và người dân thì thiếu thốn nhu yếu phẩm, lo chạy gạo từng bữa. Ðủ hôm nay thì thiếu ngày mai, hay được nồi cơm sáng, thì lại chưa có nồi cơm chiều. Cuộc đời cứ quần quật lo đói rách như thế, thì xin hỏi, còn chi thì giờ mà nhân dân nghĩ đến tranh đấu, hoặc đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền?
Cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh từng dạy: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường. Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi”.
"The religion of the future will be a cosmic religion. The religion which is based on experience, which refuses dogmatism. If there's any religion that would cope with modern scientific needs it will be Buddhism." Albert Einstein

Tôn giáo trong tương lai sẽ là tôn giáo của vũ trụ. Tôn giáo này dựa trên kinh nghiệm và không chấp nhận chủ nghĩa giáo điều. Nếu có một tôn giáo nào tương thích với khoa học hiện đại, đó chính là Phật Giáo.




Bạn Ơi Hãy Cùng Nhau Đấu Tranh Cho Cuộc Sống Của Mình & Tương Lai Của Con Cháu Mình !!!



Nhân Dân Cần Nhận Diện Bộ Mặt Thật Của Giới Cầm Quyền. Phải Hành Động Cụ Thể Đối Với Bọn Chúng !!!



Chỉ Mặt, Nhận Diện Bọn Cán Bộ Óc Đất, Lũ Công An Lưu Manh, Đám Quan Chức Tham Nhũng, Tay Sai !!!

Công Nhân Bị Đánh Đập Tàn Nhẫn, Dã Man !!!


Followers