28 September 2009

Muốn Hội Nhập Phải Hành Xử Văn Minh


Mục tiêu của hội nhập là việc kết bạn, kiếm đồng minh nhằm hỗ tương về thương mại, giáo dục, và quốc phòng. Người dân và chính quyền Hoa Kỳ, Canada, Úc, cộng đồng Châu Âu, hay bất cứ quốc gia tân tiến nào trên thế giới chưa thể làm đồng minh hay kết bạn lâu dài với một đất nước chưa hội nhập. Lý do là dân tộc Việt Nam, được lãnh đạo bởi một chính quyền tự mâu thuẫn với chính hiến pháp của họ, kềm chế sự đóng góp chính đáng của giới trí thức và quần chúng của chính họ, và dung túng cho tham nhũng (có tính cách hệ thống).

Lê Minh Thịnh



Sau khi đất nước Việt Nam gia nhập Tổ chức Mậu dịch Quốc tế (World Trade Organization) năm 2007, chính quyền Việt Nam theo đuổi những chính sách hội nhập, và luôn rao giảng thành ngữ "ra biển lớn". Nhưng chính họ đã và đang vẽ lên bức tranh kém văn minh và thiếu văn hóa làm suy giảm danh dự và uy tín của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.

Xin đơn cử vài thí dụ ngắn gọn trước để bạn đọc có thể liên tưởng ngay. Một ông nhà giàu thiếu văn hóa, mặc âu phục đi giày tây về thăm những nông dân một nắng hai sương, làm ruộng chân lấm tay bùn. Một ông nhà quê đang học đòi văn minh, tự sắm cho mình chiếc xe Rolls-Royce hào nhoáng. Một ông lãnh đạo Hà Nội bằng cấp cao nhưng hơi thiếu văn hóa, ngồi xe ô-tô khô ráo, thăm dân tình khốn khổ trong trận lụt lớn nhất thế kỷ. Chắc hẳn, bạn đọc nào cũng thấy sự kệch cỡm và khôi hài của vấn đề.

Trên trường quốc tế, chính quyền Việt Nam đã làm suy giảm danh dự và uy tín của dân tộc Việt Nam qua bốn trường hợp sau:

Thứ nhất: Chính quyền Việt Nam đã đọc, hiểu, đồng ý, và ký kết vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Universal Declaration of Human Rights - 1948). Tuy nhiên, chính quyền (và công an, an ninh) Việt Nam đã vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng, chẳng hạn như việc bắt giữ, tra khảo, ớm cung, và ép cung blogger Mẹ Nấm, blogger Người Buôn Gió, và nhà báo Phạm Đoan Trang mới đây. Mỗi lần bị đưa ra công luận quốc tế, chính quyền luôn luôn che đậy, giấu đầu hở đuôi, và lấp liếm bằng cách phân giải mỗi quốc gia có cách diễn giải "nhân quyền" khác nhau. Khi đại diện Việt Nam đặt bút ký, chắc hẳn cả người thông dịch và người ký đã phải thấu hiểu chữ Universal nghĩa là gì, và bao gồm những quốc gia thành viên và tiêu chuẩn nào?

Thứ hai: Nhân viên tòa đại sứ Việt Nam và nhân viên Hàng Không Việt Nam đã không hành xử như đại diện của đất nước Việt Nam chẳng hạn như vụ buôn sừng tê giác tại Nam Phi, vụ ăn cắp và chuyển đồ lậu tại Nhật, vụ buôn lậu đô-la tại Úc, vụ không bảo vệ người lao động Việt Nam tại Mã Lai, Đài Loan, và vụ lờ tòa án Ý. Trong những năm 90, báo Times (người viết đã đọc qua nhưng không kiếm lại tài liệu cũ được) có nêu lên vụ nhân viên tòa đại sứ Việt Nam tại Tiệp Khắc buôn lậu bằng cách gửi thật nhiều rượu (với lý do để uống) từ Tiệp về Việt Nam với tư cách nhân viên ngoại giao đoàn.

Thứ ba: Công dân Việt Nam được đối xử 2 cách khác nhau: một cách cho dân đen và một cách cho "dân đỏ". Chính quyền Việt Nam xử ông Huỳnh Ngọc Sĩ 3 năm tù giam. Ông Sĩ là một quan chức cao cấp thành phố, tham gia vụ tham nhũng quốc tế PCI, đã tỉnh táo nhận 800 ngàn đô-la Mỹ, mà báo chí và toà án Nhật đã phanh phui nhiều tháng nay. Trong khi đó, theo tác giả Hà Văn Thịnh (giáo sư Đại Học Huế), 3 nông dân ở tỉnh Lâm Đồng bị kết án tổng cộng 13 năm tù giam, vì say rượu, đã cướp 2 con vịt trị giá 175 ngàn đồng Việt Nam. Chánh án Việt Nam đã thật sự ngu ngơ, không phân biệt được ba khái niệm pháp lý căn bản: tỉnh táo (nên cố ý) vi phạm, và không tỉnh táo (nên có thể vô tình) vi phạm; khoản thiệt hại về kinh tế phải tỷ lệ (thuận) với khoản bị đền bù hay xử phạt với người bị kết tội; và khoản thiệt hại về danh dự quốc gia (cũng như đoàn thể hay cá nhân) cũng phải tỷ lệ với khoản bị đền bù hay xử phạt với người bị kết tội.

Thứ tư: Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành 2 quyết định quan trọng gây nhiều bất bình trong giới trí thức và quần chúng Việt Nam, và đã gây tiếng vang không nhỏ trong giới báo chí quốc tế như the New York Times, AP, Reuters và giới học giả như giáo sư Carl Thayer (Úc) và nhà báo và bình luật gia Greg Rushford (Hoa Kỳ).

Thứ nhất là việc ban hành trái Hiến pháp và Pháp luật quyết định số 167/2007/QĐ-TTg liên quan đến việc khai thác Bauxite tại Tây Nguyên, và thứ hai là Quyết định số 97 liên quan đến việc ngăn cấm nghiên cứu và phản biện xã hội một cách công khai dẫn đến việc tự khai tử của viện IDS (Institute of Development Studies), một think-tank cố vấn cho chính quyền phác họa ra những chính sách quốc gia hợp lý và khả thi.

Hiến pháp Việt Nam đã nêu rõ mọi công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, công dân (Tiến sĩ Luật) Cù Huy Hà Vũ lại được đại diện Tòa Tối cao là Thẩm Phán - phó Chánh án Tòa Hành Chính bà Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến, và Thẩm Phán - phó Chánh Tòa Phúc Thẩm ông Vũ Thế Đoàn khuyên nhủ rút đơn kiện công dân (Thủ Tướng Việt Nam) Nguyễn Tấn Dũng. Cách hành xử của hai Thẩm Phán cao cấp, đại diện Tòa Tối Cao đã cho thấy những người đứng đầu và đại diện cho pháp luật Việt Nam đã ngây thơ vi hiến ngay giữa pháp đình của thế kỷ thứ 21.

Như vậy, hành xử như thế nào mới có thể xem là văn minh và có được đồng minh lâu dài?

Singapore là thí dụ đồng minh của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á. Sau khi sóng thần Tsunami cướp đi sinh mạng của hơn 150 ngàn dân cư và khách du lịch vào tháng 12 năm 2004, Singapore đã lập tức gửi một phái đoàn quân sự (phi đội trực thăng Chinook, 3 chiến hạm RSS Persistence, RSS Endurance, và RSS Endeavour), y tế, và cứu hộ sang Aceh, Indonesia để cứu nạn. (Xin được mở ngoặc, cùng lúc đó, Hàng Không Việt Nam, tuyên bố mua mấy chiếc máy bay dân sự trị giá hàng chục triệu đô-la Mỹ nhằm cạnh tranh phát triển du lịch. Người viết không rõ chính quyền Việt Nam có ra văn kiện chia buồn đến những gia đình của các nạn nhân hay không). Tháng 8 năm 2005, khi Hoa Kỳ bị cơn bão Katrina giết đi trên 1 ngàn sinh mạng, thiệt hại 77 tỷ đô-la (theo Reuters), và lụt lội trầm trọng tại vùng New Orleans, Singapore đã lập tức gửi phi đội trực thăng Chinook sang để cùng với Hoa Kỳ cứu nạn và đắp đê chống lụt.

Mục tiêu của hội nhập là việc kết bạn, kiếm đồng minh nhằm hỗ tương về thương mại, giáo dục, và quốc phòng. Người dân và chính quyền Hoa Kỳ, Canada, Úc, cộng đồng Châu Âu, hay bất cứ quốc gia tân tiến nào trên thế giới chưa thể làm đồng minh hay kết bạn lâu dài với một đất nước chưa hội nhập. Lý do là dân tộc Việt Nam, được lãnh đạo bởi một chính quyền tự mâu thuẫn với chính hiến pháp của họ, kềm chế sự đóng góp chính đáng của giới trí thức và quần chúng của chính họ, và dung túng cho tham nhũng (có tính cách hệ thống).

Cho nên, đất nước Việt Nam muốn hội nhập và có được đồng minh tốt và lâu dài, cần phải không những hàng động theo tiêu chí đôi bên cùng có lợi, mà còn hành xử văn minh, đồng bộ với cộng đồng nhân loại.


Lê Minh Thịnh
Singapore, 27-09-2009


26 September 2009

Huyền Thoại TQ3: Thống kê như Gà gáy


Rồi ngạc nhiên khi có tin là vùng này vùng kia của Trung Quốc có loạn vì dân chúng biểu tình dàn trận với công an!

Những chuyện ngoắt ngoéo ấy dẫn ta về vấn đề chính: đảng viên cán bộ không có trách nhiệm với người dân ở dưới nên không còn là tai mắt đáng tin về thực tế xã hội. Khi có vấn đề thì an ninh và công an lại có quyền đàn áp, mà truyền thông bị gạt ra ngoài.

Nguyễn Xuân Nghĩa



Nội lực ra sao làm sao biết được?

Milton Friedman là một kinh tế gia bậc thầy, thuộc trường phái tiền tệ với chủ trương nhiệt liệt đề cao tự do kinh tế. Ông cũng đã từng được mời qua Bắc Kinh diễn thuyết về kinh tế thị trường và quyền tự do chọn lựa của người dân. Ông mất vào tháng 11 năm 2006, ở tuổi 95. Trước khi tạ thế mấy tháng, ông được tờ Wall Street Journal phỏng vấn và bài này được tờ báo phổ biến trong số ra ngày 22 tháng Giêng năm 2007.

Ghi rõ như vậy để những người tò mò có thể tìm đọc lại, khi Friedman được tờ báo mời ông so sánh Trung Quốc và Ấn Độ. Câu trả lời phải làm chúng ta giật mình:

"Trung Quốc vẫn duy trì chế độ tập thể về chính trị và nhân sự trong khi giải phóng dần nền kinh tế thị trường. Tới nay thì điều đó có thành công, nhưng sẽ dẫn tới xung đột vì không thể dung hợp kinh tế tự do với chính trị tập thể. Ấn Độ thì duy trì chế độ dân chủ chính trị nhưng lại quản lý một nền kinh tế tập thể. Bây giờ họ mới bắt đầu giải phóng kinh tế nên sẽ gia tăng mọi quyền tự do, vì vậy xứ này có vị trí khả quan hơn Trung Quốc".

Có lẽ các kinh tế gia thường nhìn sự việc khác thiên hạ nên mới có lời phán như của Milton Friedman. Thiên hạ đang nói đến Trung Quốc như một đại cường, hoặc một mối lo cho thế giới. Không mấy ai chú ý đến Ấn Độ, một xứ có một tỷ 200 triệu dân và sẽ có dân số vượt Trung Quốc trong vài thập niên nữa. Ấn Độ có nhiều dân Hồi giáo nhất thế giới và thường bị khủng bố tấn công, nhưng không ai nghe thấy chuyện đàn áp tôn giáo hoặc chà đạp nhân quyền, như Trung Quốc. Và Ấn Độ cũng không có âm mưu bành trướng hoặc đe doạ các lân bang.

Trong khi ấy, Trung Quốc mới là nhân vật nổi!

Milton Friedman không là kinh tế gia bình thường, ông nhìn sự việc khác với thiên hạ nên là nhân vật hiếm hoi không tỏ vẻ gì là bị mê hoặc về huyền thoại Trung Quốc mà còn tiên báo điều nghịch lý. Có lẽ vì ông nhìn vào nội lực thật của Trung Quốc. Chúng ta cũng nên thử tìm hiểu về nội lực đó khi cả thế giới cứ nói hoài là khi Trung Quốc tỉnh giấc, thiên hạ sẽ bị chấn động.

Quả nhiên là Trung Quốc đang thành cường quốc kinh tế, có dự trữ ngoại tệ hơn hai ngàn tỷ My kim, làm chủ nợ của Mỹ, đã phóng vệ tinh và đưa người lên không gian, nay đang chế tạo tầu ngầm và sẽ có hàng không mẫu hạm để vươn tới biển xanh, v.v...

Nếu còn hồ nghi thì cứ đọc báo với những thống kê hàng ngày về sản lượng kinh tế gia tăng vùn vụt trong khi Hoa Kỳ còn đang suy trầm, suy thoái và mắc nợ tứ tung.

Hôm đầu tháng Chín vừa rồi, Uỷ ban Phát triển và Cải cách Thành phố Bắc Kinh còn loan báo một con số đầy "ấn tượng" - chữ của người Hà Nội xin trả lại cho Hà Nội - rằng cuối năm nay thì sản lượng GDP trung bình của một người dân Bắc Kinh sẽ lên tới 10.000 Mỹ kim. So với năm ngoái là 9.075 đô la thì coi như tăng 12,5%. Con số một vạn đồng này có giá trị mầu nhiệm về tâm lý vì là tiêu chuẩn của mức sống trung lưu trên thế giới. Thống kê được tung ra như tiếng gáy trước ngày kỷ niệm 60 năm thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc.

Nhưng người dân tại chỗ thì coi bộ lạnh tanh. Họ đã nghe quen tiếng gáy.

Thế hệ cha anh của họ đã kể lại thành tích long trời lở đất của "Bước nhảy vọt vĩ đại" thời Mao Trạch Đông. Từ nay ta sẽ phú cường yên vui. Sau đó, từ 1959 đến 1961 đã có 36 triệu người chết vì đói ngay trong thời bình. Chỉ vì một chuyện rất lạ là chính Mao Trạch Đông cũng không biết gì về thực trạng của xã hội, từ các công xã lên tới tỉnh, thành. Không biết gì về thực trạng đó nên dân mới chết đói mà nhà nước vẫn bình chân như vại. Chỉ vì từ cấp thấp nhất lên tới cấp cao nhất của bộ máy hành chánh cách mạng, người người đều thi đua thổi ống đu đủ, với những báo cáo vượt chỉ tiêu trình lên trên. Lên mỗi cấp lại nống thêm một nấc để lập thành tích dâng đảng.
Ở trên cùng, lãnh đạo đảng ngồi uống nước đường trong khi dân đói rã họng, chết như ruồi.

Hai chục năm sau trò đùa man rợ này, Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, và ý thức được sự mù lòa của lãnh đạo khi không có thông tin thực tế và thống kê khả tín. Ông muốn hiện đại hoá hệ thống thu thập thống kê và tiêu chuẩn hóa cách đo lường cho khoa học hơn. Ngày nay, ba chục năm sau, tình hình vẫn vậy! Tình hình sở dĩ vẫn như vậy sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2001. Chỉ vì WTO không đòi hỏi xứ này cũng phải có hệ thống thống kê theo cùng tiêu chuẩn, chỉ cần có phương pháp phù hợp với các quốc gia đối tác mà thôi. Nước nào mà khôn ngoan tự cải tiến thì sẽ sáng hơn, nếu không thì cứ ráng chịu!

Vì vậy, ta mới có những tiếng gáy lạc điệu.

Thí dụ mà những người bị Trung Quốc mê hoặc nhất cũng không thể không biết. Tháng Tám vừa rồi, Cục Thống kê Quốc gia loan báo con số vĩ đại về Tổng sản lượng Nội địa với tăng suất cao bất ngờ, trong khi cả thế giới đang lao đao về suy thoái kinh tế. Nhưng con số đó chưa thấm vào đâu vì nếu cộng lại Tổng sản lượng GDP của 31 tỉnh và thành phố của toàn quốc thì còn cao hơn 10%! Cùng một nhà nước lãnh đạo mà ta có hai con số khác nhau...

Trước đó, vào tháng Tư, Cục Thống kê cũng nói tới mức tăng trưởng sản xuất đáng kể, làm Cục Năng lượng Quốc tế ngạc nhiên vì số cầu về dầu khí của Trung Quốc đã giảm mạnh. Tháng Sáu thì có chuyện sản lượng kỹ nghệ gia tăng đầy ấn tượng, là 8,9%. Các chuyên gia hoài nghi con số này của Cục Thống kê vì cùng lúc đó số điện tiêu thụ lại sút giảm. Dùng ít điện ít dầu hơn mà vẫn sản xuất nhiều hơn thì chỉ có phép lạ của con trời.

Vì sao lại có chuyện đó?

Vì Trung Quốc có hai hệ thống thu thập thông tin song hành. Một hệ thống là tổ chức thống kê với chức năng hội nhập và đúc kết các con số từ dưới đưa lên. Hệ thống kia là thống kê của các phủ bộ hay cơ quan cũng của nhà nước. Hệ thống hội nhập là của Cục Thống kê Quốc gia nằm tại Bắc Kinh, có nhân viên ở mọi cấp bên dưới để báo cáo về trung ương. Hệ thống kia là văn phòng thống kê của từng bộ có nhiệm vụ thu thập thống kê trong phạm vi chức năng của mình. Bộ Tài chánh có thống kê về tài chánh, thuế khoá, Bộ Thương mại có con số về đầu tư nước ngoài, v.v...

Hai hệ thống ấy gạn ra hai con số không giống nhau vì cùng một nguyên nhân. Chúng ta trở lại ý kiến của Milton Friedman.

Vì chế độ chính trị ông gọi là "tập thể", nhân sự trong bộ máy công quyền đều được ở trên bổ nhiệm - trừ nhân sự cấp xã ấp là do dân chúng bầu lên. Vì vậy, tuyệt đại đa số "công bộc nhà nước" đều chịu trách nhiệm với thượng cấp ở trên, là nơi quyết định việc thăng thưởng hoặc cơ hội đỉnh chung làm giàu cho họ. Cho nên họ chỉ phải báo cáo để thượng cấp đẹp lòng, chứ không chịu trách nhiệm gì với những người ở dưới - dưới cùng là người dân.

Trong công vụ, họ cần đưa lên trên những báo cáo có đặc tính tâng công và mỗi cấp lại châm thêm một hệ số tâng công như vậy, nên ở trên cùng, những người lãnh đạo đều có một phúc trình màu hồng. Và nhiều khi còn hồng hơn phúc trình của cơ quan khác, về cùng một lãnh vực cần khảo sát.

Đã vậy, phương pháp thống kê của Trung Quốc cũng có... "màu sắc Trung Hoa", nghĩa là không hoàn toàn giống phương pháp của các nước kỹ nghệ tiên tiến như Mỹ, Âu, Nhật. Thí dụ như con số về Tổng sản lượng GDP, Trung Quốc dùng phương pháp quy ra toàn năm, thí dụ từ tháng Tám năm này so với tháng Tám năm ngoái. Trong khi các nước kia dùng cả phương pháp đó (xin lỗi, gọi là year-over-year) lẫn phương pháp chi tiết hơn, là từ quý này qua quý sau (mỗi ba tháng). Những trường hợp khác biệt này có rất nhiều, nhưng điểm cần nói ở đây là truyền thông đôi khi không phân biệt hay giải thích, nên dễ kết luận sai và tạo ra ấn tượng (cảm tưởng, định nghĩa của từ này) là kinh tế Trung Quốc tăng trưởng mạnh, thất nghiệp thấp, có lợi tức cao, v.v...

Rồi ngạc nhiên khi có tin là vùng này vùng kia của Trung Quốc có loạn vì dân chúng biểu tình dàn trận với công an!

Những chuyện ngoắt ngoéo ấy dẫn ta về vấn đề chính: đảng viên cán bộ không có trách nhiệm với người dân ở dưới nên không còn là tai mắt đáng tin về thực tế xã hội. Khi có vấn đề thì an ninh và công an lại có quyền đàn áp, mà truyền thông bị gạt ra ngoài.

Loạn nhỏ sẽ gây ra loạn lớn làm mọi người đều ngạc nhiên. Ngoại trừ Friedman, nhưng ông đã đi rồi. Chúng ta sẽ còn trở lại những chuyện đáng ngạc nhiên này. Xin chờ đợi số báo tới!


NGUYỄN XUÂN NGHĨA


25 September 2009

Huyền Thoại TQ 2 - Cái Nghiệp Hợp Tan


Lãnh đạo Trung Quốc đang gặp lại bài toán muôn thuở là tập trung quyền lực về trung ương để gìn giữ ổn định, hay phân quyền cho các địa phương để phát triển, nhưng là phát triển không đồng đều trên một lãnh thổ có ba vùng tam phân về lợi tức và nhận thức. Chưa nói đến sự cấu kết của các thế lực ngoại bang hay doanh nghiệp ngoại quốc với các đảng bộ phú hào ở địa phương...

Nguyễn Xuân Nghĩa



Tập trung để ổn định hay Phân quyền để tan rã?

Truyện Tam quốc chí Diễn nghĩa mở đầu như sau:

"Phàm đại thế trong thiên hạ, cứ tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan: như cuối đời nhà Chu, bảy nước phân tranh xâu xé rồi sau lại hợp về nhà Tần. Đến khi Tần mất, thì Hán Sở tranh hùng rồi sau thiên hạ lại hợp về tay nhà Hán..."

Người Việt chúng ta thường mê truyện Tầu và Tam quốc thì còn đọc lầu lầu, nhưng có khi lại quên mất câu mở đầu của tác phẩm. Nó có thể là một quy luật lịch sử, xuất phát từ một thực tế địa dư. Nói cho thi vị, nó nằm trong lá Tử vi của Trung Quốc!
Quốc gia bát ngát này có địa dư hình thể khá đặc biệt đã ảnh hưởng đến kinh tế, văn hoá và chính trị.

Từ biển Đông đi vào hướng Tây, Trung Quốc có khu vực đầu tiên là cái nôi của nền văn minh gọi là Hoa Hạ, với các sắc dân có thể từ nơi khác về tập trung dần ở tại đây và dựng nên Trung Quốc như ta biết ngày nay.

Nếu vạch một đường tuyến từ điểm giáp giới với với mỏm cực Bắc của Miến Điện lên tới Bắc Kinh và kéo dài qua phân nửa Đông Nam của Mãn Châu, ta có một đường "đẳng cao tuyến" phân biệt độ mưa (isohyet). Bên phải của đường tuyến ra tới biển là nơi có cùng độ ẩm (36 phân nước mưa) thuận tiện cho việc trồng trọt. Bên kia là những vùng đất khô cằn. Khu vực này còn có ba con sông lớn là Hoàng hà, Dương tử và Châu giang cần thiết cho tiêu tưới và cả vận chuyển. Đây là Trung Nguyên, vùng sinh hoạt tập trung Hán tộc trong khi các sắc tộc thiểu số khác thì sống phân tán trên những vùng còn lại, bị đồng hoá dần.

Những vùng còn lại đó là 1) khu vực nội địa, nằm ở phía Tây và khó thông thương ra ngoài và 2) khu vực biên trấn tiếp giáp với xứ khác, từ cao nguyên Thanh Tạng qua Tân Cương lên tới Nội Mông và Mãn Châu. Khu vực biên trấn này là vùng trái độn về quân sự để bảo vệ Trung Quốc vì trong lịch sử, các dị tộc hay ngoại bang mà người Hán khinh miệt thường tràn vào tấn công, thậm chí làm chủ Trung Nguyên trong nhiều thế kỷ.

Bài toán hợp tan từ muôn thuở là làm sao thống nhất được Trung Nguyên, kiểm soát được canh nông và phân phối lương thực ở tại đây, khống chế được khu vực nội địa và bảo vệ được khu vực ngoại biên. Ngay tại Trung Nguyên, một bài toán khác cũng từng đặt ra là thống nhất cai trị trên vùng đất trù phú và đông dân nhất: mâu thuẫn Nam-Bắc đã nhiều lần xảy ra và ngày nay, vẫn còn miền Nam nói tiếng Quảng Đông, miền Bắc nói tiếng Quan hoả, ở giữa là nhiều ngôn ngữ địa phương khác.

Vì vậy, mọi triều đại vừa lên cai trị đều phải giữ chặt Trung Nguyên bằng một chế độ tập trung và khống chế được các dị tộc bên ngoài để khỏi bị tấn công. Muốn như vậy, phải kiểm soát được các vùng thảo nguyên sa mạc vây quanh và cả những đường chuyển vận huyết mạch xuyên qua khu vực hoang vu đó. Say mê truyện Tầu, chúng ta đã nghe hoặc đọc nhiều về rợ Hung Nô, về mối lo của nhà Hán tại Tây Vực, hoặc sự hình thành của nhiều đợt Vạn lý Trường thành được xây dựng từ thời Chiến Quốc qua nhà Tần, nhà Minh...

Đấy là biểu hiện của bài toán kết hợp để bảo vệ, nếu không là tan thành nhiều nước...

Sau các thời Xuân Thu rồi Chiến Quốc, Tần Thủy Hoàng đế đã bãi bỏ chế độ phân phong - chia đất và phong hầu cho tầng lớp quý tộc, về sau họ trở thành nhiều "nước" sâu xé lẫn nhau - để lập ra chế độ quận huyện với một bộ máy quan lại (gọi là hành chánh theo ngôn ngữ ngày nay) do trung ương thống nhất điều khiển... Điều khiển việc gì? Chủ yếu là việc trưng thu và phân phối tài nguyên, kể cả thuế khóa, để nuôi quân và bảo vệ triều đình ở trung ương.

Trong mấy ngàn năm, mưu thuật chính trị của đa số quan lại là nếu ở trong triều thì phải ảnh hưởng được tới Hoàng đế hầu bảo vệ được quyền lực trong bộ máy công quyền; nếu ở địa phương thì ảnh hưởng được tới các quan tại trung ương hầu được thăng quan tiến chức - hoặc khỏi mất việc, bay đầu... Trong ngần ấy mưu toan, ai ai cũng nhân danh Hoàng đế, một người có "chân mạng đế vương", thừa "thiên mệnh" mà cai trị bàn dân thiên hạ.

Nhưng nội loạn vẫn có thể bùng nổ khi bộ máy công quyền ấy cấu kết với các phần tử ưu tú - giàu có và sáng suốt nhất ở từng địa phương - và đòi làm chủ một khu vực mà không công nhận quyền lực trung ương. Nội loạn bùng nổ nhiều lần trong lịch sử, khi quyền lực trung ương bị suy yếu vì triều đình mục nát, quan lại tham ô. Đó là chuyện tan. Khi có kẻ xuất chúng bước lên thống nhất thiên hạ bằng bạo lực thì quyền lực trung ương lại được tập trung rất chặt chẽ, đấy là chuyện hợp...

Trên một lãnh thổ rộng lớn như vậy, xứ này có đủ tài nguyên để tồn tại trong chế độ tự cung tự cấp. Nếu muốn được trù phú hơn, Trung Quốc phải giao thương với bên ngoài. Trong một giai đoạn mấy ngàn năm, cõi "bên ngoài" ấy chưa là biển Đông vì xứ này không có một nền hàng hải như nhiều quốc gia duyên hải khác của nhân loại. Một thử nghiệm ngắn ngủi là các chuyến hải hành của Đô đốc Trịnh Hoà vào đầu thế kỷ 15 rồi bị dập tắt. Họ quay vào trong, thành một cường quốc lục địa. Khi cần giao thương, ngả đường chủ yếu là "Con đường Tơ lụa" Ti trù lộ trên khu vực biên trấn qua Tân Cương vào Trung Á. Bảo vệ đường giao thương hiểm trở ấy là chiến lược an ninh và kinh tế. Trung ương cung cấp phương tiện phòng vệ cho các địa phương và đổi lại thì được các địa phương cung cấp tài vật trưng thu được trên đường giao thương.

Khi nhân loại bắt đầu bước qua giai đoạn công nghiệp thì cũng là lúc xuất hiện các pháo hạm Âu Châu, rồi Nhật Bản và Hoa Kỳ, ở ngoài biển Đông. Thế quân bình ngàn năm bị đảo lộn.

Trung ương phải giao thương với bên ngoài theo những điều kiện do các cường quốc bên ngoài đặt ra. Vì lý do địa lý lẫn chính trị, việc giao thương đó lại tập trung ở các tỉnh duyên hải miền Đông Nam, nằm rất xa Bắc Kinh để trung ương khỏi bị nhiễm độc Tây dương. Đâm ra, rất cô đơn ở trên đỉnh, trung ương tại Bắc Kinh thấy là mình phải xử lý một lúc với hai thế lực đôi khi toa rập với nhau, là ngoại bang và các tỉnh duyên hải này. Trung ương viện dẫn "thiên mệnh" hay "Thánh hiền", các tỉnh thì viện dẫn thịnh vượng và tiến bộ.

Bài toán hợp tan lại đặt ra. Nếu bế quan toả cảng để tập trung quyền lực thì xứ sở nghèo đi trong một thế "đại đồng" mà kiệt quệ. Nếu lại giao thương với bên ngoài để mở mang xứ sở thì trung ương bị suy yếu trong khi các tỉnh lại giàu mạnh hơn. Nhà Đại Thanh bị suy yếu dần trong thế kỷ 19 rồi tan rã dưới hai động lượng song hành là thế lực ngoại bang (chủ nghĩa tư bản!) và thế lực địa phương (chủ nghĩa cát cứ!). Mà chẳng thế lực nào lại có thể kiểm soát được cả lãnh thổ nên Trung Quốc đi vào nội loạn và nội chiến kéo dài....

Trong nhiều biến động chính trị của lịch sử xứ này, thành phần dân chúng đói khổ ở các vùng nội địa vẫn thường cung cấp nhân lực cho cách mạng đổi đời tại Trung Nguyên, là nơi có điều kiện sinh sống tương đối thoải mái hơn. Tần Thủy Hoàng đế hay Mao Trạch Đông cũng quy tụ nhân lực từ những khu vực ấy để tiến vào làm chủ Trung Nguyên. Trung Quốc đã tồn tại hơn hai chục thế kỷ với hệ thống chính trị đó.

Bây giờ, tình hình đã khác...

***

Khi lên nắm quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông lập tức tập trung quyền lực vào trung ương, đưa quân đi xây dựng vùng trái độn ở ngoài phiên trấn và phát huy chủ nghĩa đại đồng theo quan niệm và sự diễn giải của ông ta. Muốn phát triển xứ sở cho đại đa số dân nghèo - thành phần quần chúng của mình - bớt đói khổ, ông phát động "Bước nhảy vọt vĩ đại". Đó là giải pháp cách mạng kinh tế tại các công xã địa phương mà không đe dọa quyền lực của trung ương. Kết quả là một tai họa lịch sử làm 36 triệu người chết! Chìm sâu bên dưới bi kịch đó là một hiện tượng vẫn đang tiếp diễn: trung ương bị mù lòa về thông tin vì thống kê ở bên dưới đưa lên là những dữ kiện ảo. Mỗi cấp lại châm thêm một "hệ số tích cực", là thổi phồng thành quả, và tích lũy thành một báo cáo siêu thực hoàn toàn tách rời khỏi thực tế.

Khi thấy quyền lực trung ương bị rung chuyển, Mao Trạch Đông thi thố loạt biện pháp thứ nhì: dùng quần chúng sinh viên và nông dân đánh ngược vào cơ sở đảng, rồi gọi đó là "Cách mạng Văn hoá Vô sản Vĩ đại". Người có công trong chiến lược quái đản này của Mao là Khang Sinh, trùm an ninh và mật vụ của Mao và cũng là nhân vật thực tế chỉ đạo "Tứ nhân bang", kể cả Giang Thanh. Mười năm cách mạng hoang tưởng đó chỉ kết thúc với cái chết của Khang Sinh rồi Mao Trạch Đông, khiến Đặng Tiểu Bình có cơ hội trở về tranh thủ lại quyền lực đã mất.

Xong rồi, ông tiến hành một cuộc cách mạng thật, là cải cách kinh tế và mở cửa ra bên ngoài, kể từ đầu năm 1979 trở đi (Sau Hội nghị kỳ ba của Ban Chấp hành Trung ương khoá 11 vào tháng 12 năm 1978).

Sau khẩu hiệu "đại đồng" của Mao là khẩu hiệu "tiểu khang" của Đặng. Lấy chữ trong Kinh Thi, phần Đại Nhã, bài "Dân Lao", Đặng Tiểu Bình muốn cho dân nghèo đều được đủ ăn (khang tí tí thôi) bằng cách lấy tăng trưởng kinh tế là thước đo cho sự thăng tiến chính trị của các đảng viên. Quả nhiên là khi trung ương hết tập trung kiểm soát kinh tế thì người dân được làm ăn thoải mái hơn, với kết quả là 800 triệu người đã thoát khỏi mối lo chết đói...

Nhưng, địa dư hình thể và chính trị độc đoán vẫn lại vận hành: ba chục năm sau khi cải cách, các tỉnh duyên hải làm giàu nhanh nhất, các đảng viên trong bộ máy quan lại cũng vậy.

Nông dân khỏi lo chết đói thì lại thấy rằng mình vẫn tụt hậu, bị lọt sổ ở dưới. Và đất đai canh tác bị thu hẹp, bị cưỡng đoạt cho công cuộc kỹ nghệ hoá và đô thị hóa. Giữa các tỉnh với nhau, khu vực duyên hải cũng tăng trưởng mạnh nhất, bỏ xa hai khu vực còn lại. Hố sâu giàu nghèo bị đào sâu giữa các thành phần dân chúng và giữa các tỉnh. Giang Trạch Dân rồi Hồ Cẩm Đào đều đã thấy vấn đề này.

Và lờ mờ nhìn ra viễn ảnh hợp tan.

Mươi năm về trước, Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ phát động phong trào "Tây Tiến" để kêu gọi đầu tư vào các tỉnh lạc hậu bị khoá trong lục địa ở hướng Tây. Nhưng thiên nhiên hiểm trở và thị trường lý tài đều thuộc loại cứng đầu nên phong trào không có kết quả. Hàng hóa sản xuất từ mấy nơi đó thì rẻ hơn thật, nhưng vận chuyển ra ngoài, tới vùng duyên hải để xuất cảng qua xứ khác lại tốn kém hơn nhiều!

Khi lên kế vị, thế hệ Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng thấy ra mối nguy hợp tan đó.

Họ lấy lại khẩu hiệu "tiểu khang" để nhắc nhở đến khối dân cùng khốn, họ quảng bá khái niệm "phát triển trên cơ sở khoa học" và xây dựng "xã hội hài hòa", tập trung nỗ lực vào một số ngành chiến lược như thép, than hay dầu, và tăng cường quyền hạn và phương tiện cho quân đội để thể hiện ý chí "quật khởi hoà bình". Toàn những khẩu hiệu đẹp mà sau nhiều năm thi hành vẫn chưa thấy kết quả.

Lãnh đạo Trung Quốc đang gặp lại bài toán muôn thuở là tập trung quyền lực về trung ương để gìn giữ ổn định, hay phân quyền cho các địa phương để phát triển, nhưng là phát triển không đồng đều trên một lãnh thổ có ba vùng tam phân về lợi tức và nhận thức. Chưa nói đến sự cấu kết của các thế lực ngoại bang hay doanh nghiệp ngoại quốc với các đảng bộ phú hào ở địa phương...

Hấp dẫn lắm!


NGUYỄN XUÂN NGHĨA




Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi. Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.
Nhà cầm quyền cộng sản, hơn lúc nào hết, luôn buộc người dân lo nghĩ đến chuyện miếng ăn, cái mặc. Cái bụng lúc nào cũng phải cảm thấy còn đoi đói, chưa no. Và người dân thì thiếu thốn nhu yếu phẩm, lo chạy gạo từng bữa. Ðủ hôm nay thì thiếu ngày mai, hay được nồi cơm sáng, thì lại chưa có nồi cơm chiều. Cuộc đời cứ quần quật lo đói rách như thế, thì xin hỏi, còn chi thì giờ mà nhân dân nghĩ đến tranh đấu, hoặc đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền?
Cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh từng dạy: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường. Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi”.
"The religion of the future will be a cosmic religion. The religion which is based on experience, which refuses dogmatism. If there's any religion that would cope with modern scientific needs it will be Buddhism." Albert Einstein

Tôn giáo trong tương lai sẽ là tôn giáo của vũ trụ. Tôn giáo này dựa trên kinh nghiệm và không chấp nhận chủ nghĩa giáo điều. Nếu có một tôn giáo nào tương thích với khoa học hiện đại, đó chính là Phật Giáo.




Bạn Ơi Hãy Cùng Nhau Đấu Tranh Cho Cuộc Sống Của Mình & Tương Lai Của Con Cháu Mình !!!



Nhân Dân Cần Nhận Diện Bộ Mặt Thật Của Giới Cầm Quyền. Phải Hành Động Cụ Thể Đối Với Bọn Chúng !!!



Chỉ Mặt, Nhận Diện Bọn Cán Bộ Óc Đất, Lũ Công An Lưu Manh, Đám Quan Chức Tham Nhũng, Tay Sai !!!

Công Nhân Bị Đánh Đập Tàn Nhẫn, Dã Man !!!


Followers