14 September 2010

Khoa học hiện đại và con đường Phật giáo


Nguyên lý của Phật giáo là: hãy làm cho tâm thức mình trong sạch, không phiền não, không biến động, không phân chia, khi đó thực tại tối hậu sẽ hiện ra (trong tâm ấy). Và tùy mức độ thanh tịnh của tâm thức đến đâu, thế giới như thật sẽ hiện ra tới mức độ đó. Mặt gương tâm sạch tới đâu, thế giới sẽ hiện ra tới đó. Thiền sư Vô Ngôn Thông, vị khai sáng dòng thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam đã đại ngộ vì câu nói của Thiền sư Bách Trượng: “Đất tâm nếu không, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên chiếu sáng”. Tâm nếu không phân chia chủ thể với khách thể, thân tâm và thế giới, tâm và vật, Phật giáo và khoa học..., nghĩa là không tự phân tán, không tự làm manh mún chính nó, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên soi chiếu, thực tại tối hậu sẽ hiện tiền (hiện ra trước mắt).

Nguyễn Thế Đăng

Khoa học hiện đại và con đường Phật giáo


Khoa học phương Tây như chúng ta biết hiện nay phát xuất từ văn minh Hy Lạp. Vào khoảng 500 năm trước Tây lịch (TL), thời mà triết gia Karl Jaspers gọi là “thời trục”, đó là thời bình minh của triết học và tư tưởng với những vị đã thiết định nên cách thức và đường lối tư duy của nhân loại ở phương Đông và phương Tây, như giáo chủ Zarathustra, giáo chủ Mahavira, Phật Thích Ca Mâu Ni, Lão Tử, Khổng Tử, Socrates, Plato, Aristotle...

Những tư tưởng gia đầu tiên của Hy Lạp, trong câu hỏi bản thể hay nguyên nhân chất thể của vũ trụ là gì, đã được Thales (khoảng 624 – 547 trước TL) nói: “Tất cả là Nước”, Anaximandre (610 – 564 TL) cho rằng “Nguyên nhân chất thể và nguyên nhân sơ bản của vạn vật là cái Bất định”; với Anaximène (585 – 528) chất thể ấy là “Khí”, với Pythagore, vũ trụ là sự hòa âm (cosmos, chữ cosmos này cũng có nghĩa là vũ trụ) và Heraclite thì nói: “Mọi vật đều có thể biến đổi thành Lửa và Lửa cũng biến đổi thành bất cứ sự vật gì, cũng như hàng hóa biến đổi thành vàng và vàng biến đổi thành hàng hóa vậy”. Parménide xem “hữu thể” (être) là nền tảng của vạn vật. Còn Leucipus và Democrite (thế kỷ IV tr. TL) nói rằng chất thể của vũ trụ là những “nguyên tử”...

Dĩ nhiên, chúng ta cần hiểu nước, lửa, khí... hay hữu thể không phải ngây thơ theo nghĩa đen, mà các tư tưởng gia ấy chỉ muốn nói một điều, tất cả vũ trụ vạn vật đều sinh ra từ một thực thể, và do đó “vạn vật đồng nhất thể”.

Cho đến Plato (427 – 347 tr. TL) và nhất là học trò của Plato là Aristotle (384 – 322 tr. TL) đã chia rõ ràng sự hiểu biết về vũ trụ thành hai môn học Siêu hình học (Metaphysics) và Vật lý học (Physics): siêu hình học là môn học nghiên cứu về hữu thể hay bản thể và vật lý học nghiên cứu về sự vật, hiện tượng. Khoa vật lý học như chúng ta biết ngày nay phát xuất từ đó.

Từ lúc này trở đi, có khoa học và khoa học được phát triển chủ yếu theo hướng vật lý học, nghĩa là tìm kiếm sự thực của vật chất (vật chất là “sắc”, uẩn đầu tiên trong 5 uẩn của Phật giáo là sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Chúng ta có thể kể ra vài khuôn mặt lớn, như Ptolemy (83 – 161) nhà thiên văn học, Euclid nhà toán học với tác phẩm Các nguyên tố (the Elements) (nói theo ngôn ngữ Phật giáo là các đại). Sau đó khoa học phương Tây bước vào thời Trung cổ, chịu ảnh hưởng của thần học với những tín điều như trái đất là trung tâm bất động của vũ trụ. Phải đến thế kỷ XVI với những nhà khoa học như Galileo (đưa sự thực nghiệm vào khoa học) và Copernicus (người đầu tiên khẳng định bằng khoa học rằng trái đất quay quanh mặt trời), thì khoa học mới dần tách ra khỏi tôn giáo, trở lại vị trí độc lập.

Chỉ sau Galileo chưa đầy nửa thế kỷ, Newton (1643 – 1727) với phát hiện về lực hấp dẫn, đã lý giải vũ trụ trong trật tự cơ học. Mọi hiện tượng đều được giải thích. Vũ trụ là trật tự, một trật tự cơ học, vận hành trên cơ sở định luật hấp dẫn. Mơ ước về một thế giới quan thống nhất, quy kết vào những nguyên lý thống nhất xem ra đã thành hiện thực. Nhưng vũ trụ cơ học cổ điển của Newton vẫn còn thô, “cứng” (cứng và mềm, hiểu theo thuật ngữ hiện đại, như của vi tính chẳng hạn) và chưa sâu sắc lắm, vì nó chưa chạm đến những phần vi tế của vũ trụ như: bản chất của lực hấp dẫn, bản chất của ánh sáng, mô hình của nguyên tử, lực điện từ, tương tác yếu, tương tác mạnh trong nguyên tử v.v...

Phải đợi đến đầu thế kỷ XX, vật lý học đã tiến một bước lớn, mà chúng ta gọi là vật lý học hiện đại, vi tế hơn, "mềm" hơn, sâu sắc hơn, và chính với nền vật lý này, thế giới quan của khoa học mới tiếp cận được với minh triết phương Đông. Những cuốn sách Đạo Vật lý (1977) của Fritjof Capra và Einstein và Đức Phật (2002) của J. Mac Farlane (cả hai tác giả đều là những nhà vật lý) đã chứng tỏ điều đó. Từ năm 1969, trong cuốn sách Nhà Vật lý và những Nhà Đạo học, Những Tương đồng trong Thế giới quan, nhà tâm lý học tiền phong Lawrence Le Shan đã làm một điều tra: ông đã để lẫn lộn những câu nói của những nhà vật lý hàng đầu như Einstein, Max Plank, Niels Bohr, Heisenberg... với những câu nói của Viverananda, Krishnamurti, Tagore... thì ngay cả những người rất trí thức cũng khó mà phân biệt đâu là câu nói của nhà vật lý và đâu là câu nói của nhà đạo học.

Năm 1909, Einstein, dĩ nhiên dựa vào trào lưu khám phá mới trong vật lý học, đã nêu ra thuyết tương đối đặc biệt. Ở đây chúng ta chỉ nhắc đến hai điểm:

- Không gian, thời gian trước đây được xem như là hai đại lượng tuyệt đối thì nay chúng trở thành tương đối. Không gian, thời gian, khối lượng... nghĩa là tất cả mọi vật đều có thể co giãn. Khối lượng thì co lại, thời gian thì chậm lại khi chuyển động với tốc độ rất nhanh. Bằng tốc độ ánh sáng, vật tan biến thành ánh sáng và thời gian đồng hồ cũng không còn. Trước kia chúng ta chỉ sống trong một thế giới giác quan ba chiều, nay Einstein thêm vào chiều thời gian, thành ra một tổng hợp bốn chiều, gọi là thời – không, và vũ trụ không chỉ có bốn chiều mà có thể có n chiều. Tóm lại, tất cả thế giới chúng ta biết đều tương đối vì mỗi cái đều tùy thuộc vào những yếu tố khác. “Những từ ngữ đời thường “không gian” và “thời gian” ám chỉ một cấu trúc của không gian và thời gian thực ra là một sự ý niệm hóa đơn giản quá mức” (Heisenberg). Và ngành thiên văn khám phá vũ trụ không đứng yên mà đang giãn nở sau vụ nổ lớn Big Bang, vụ nổ năng lượng đã tạo ra vũ trụ chúng ta.

- Khối lượng có thể biến thành năng lượng trong một công thức rất đơn giản E = mc2. Như vậy vật chất chỉ là dạng năng lượng cô đặc. Các hạt thì có đời sống biến đổi luôn luôn, có hạt chỉ sống chưa đầy một phần trăm triệu của một giây. Chúng ta có thể hình dung vũ trụ là một biển năng lượng trong đó các hạt từ năng lượng sinh ra rồi lại tan biến thành năng lượng, “sinh diệt trong khoảnh khắc”, như bọt biển từ nước biển sinh ra rồi tan vào nước biển. Đây cũng là một hình ảnh thí dụ về thực tại của Phật giáo Đại thừa.

Năm 1900, Max Plank phát hiện rằng năng lượng phát ra không theo một sự liên tục mà theo từng “gói”, từng lượng tử. Những gói năng lượng đó chỉ tùy thuộc vào tần số của bức xạ và một hằng số gọi là hằng số Plank. Và Heisenberg đã phát minh nguyên lý bất định: người ta không thể vừa biết vị trí, vừa biết vận tốc của một hạt. Biết chính xác vận tốc thì không thể biết chính xác vị trí của nó. Khoa học không còn là khoa học chính xác, mà là xác suất, đó là cơ học ma trận (matrix). Capra nói: “Nhìn chung, một hạt thiếu ổn định có thể phân hủy biến thành nhiều cách phối hợp khác nhau của những hạt khác, và ta lại không biết hạt đó sẽ mang hình dáng phối hợp nào. Chúng ta chỉ có thể tiên đoán, trong một số lượng lớn các hạt thì khoảng 60% của chúng sẽ biến chuyển ra thế này, 30% sẽ biến chuyển ra thế khác và 10% sẽ biến chuyển theo kiểu thứ ba”. Tính xác suất này cho ta thấy hạt có vẻ “tự do”, không thể dự đoán chính xác “hành vi” của nó..

Quan niệm về lượng tử mở đường cho khuynh hướng thứ hai của vật lý hiện đại, đó là vật lý lượng tử. Có lẽ điều quan trọng nhất mà vật lý lượng tử khám phá là vật chất có hai dạng: vừa là hạt vừa là sóng. Đó là một mâu thuẫn đối với ý thức chúng ta: một hạt như electron chẳng hạn vừa là hạt vừa là sóng, và những phương trình xem nó là hạt cũng đúng mà những phương trình xem nó là sóng cũng đều đúng. Từ đó có thêm một điều khá kỳ lạ là cái mà chúng ta quan sát tùy thuộc vào người quan sát, nếu ta quan sát theo hệ thống hạt thì vật chất là hạt, nếu quan sát theo hệ thống sóng thì nó là sóng. Schrodinger đã viết ra những phương trình sóng xác suất đó. Phương trình sóng xác suất được hiểu là khả năng xuất hiện của hạt. Chỉ khi có người quan sát, phương trình sóng mới “sụp đổ” (collapse) để sóng biến thành hạt.

Heisenberg đã nói: “Nguyên tử không phải là vật”. Ông nói tiếp: “Điều mà ta quan sát thấy không phải là thể tính đích thực của thiên nhiên mà là cái do thiên nhiên xuất hiện ra theo cách tra hỏi của chúng ta”. Và Bohr tóm tắt vào cuối đời mình: “Không hề có một thế giới lượng tử, chỉ có một sự miêu tả lượng tử trừu tượng”.

Tóm lại, với khoa học hiện đại, vật chất không còn là một chất thể cứng đặc, nó “mềm” hơn nhiều, ít “thật” hơn nhiều, với những chuyển động gần bằng tốc độ ánh sáng, với những hạt không ổn định, thoắt hiện thoắt biến. Vật chất chỉ là sóng năng lượng, và tùy theo sự “phá vỡ” phương trình sóng đó mà có một phương diện của hiện tượng xuất hiện với chúng ta, phù hợp với giác quan và ý thức của chúng ta, đó là cái chúng ta gọi là vật chất.

Hiện nay có gần 10 cách diễn dịch (interpretation) về thế giới vật lý, trong đó có hai đường lối diễn dịch chính.

Đường lối diễn dịch Copenhagen do Bohr và Heisenberg khởi xướng. Heisenberg nói: “Khoa học tự nhiên không mô tả và lý giải về tự nhiên đúng như tự thân tự nhiên. Đúng hơn, khoa học tự nhiên là một phần của tiến trình tương tác qua lại giữa tự nhiên và chính chúng ta”. Einstein cũng nói: “Sự vật luôn luôn là cái gì được chúng ta sáng tạo ra bằng tâm thức, nghĩa là cái gì chúng ta ấn định một cách tự do (trong chiều hướng có luận lý). Những sáng tạo như vậy, chúng tiêu biểu, đại diện cho “thực tại” đối với chúng ta, chỉ được biện minh bằng tính chất có thể hiểu được những gì giác quan đưa đến”. Sự vật không phải là hạt cũng không phải sóng. Sóng hay hạt đều là sự xuất hiện của một thể “khả năng” nào đó với nhà quan sát. Khi xác định một sự vật, con người đã làm “sụp đổ” phương trình sóng của nó và bắt ép nó vào trong một hệ thống định sẵn của mình. Như vậy, khi hỏi chất thể của vật là gì, đó là một câu hỏi vô nghĩa (hay “bất định” như lối nói của Anaximandre ở trên?).

Đường lối diễn dịch “đa thế giới” của lý thuyết “dây” (string theory) hay “siêu màng” (membran) được S. Hawking, nhà vật lý lý thuyết được xem là xuất sắc nhất hiện nay, và Feynman và Heinberg, cả hai đều được giải Nobel vật lý. Quan điểm này nói rằng thực tại là một mạng lưới nhiều chiều (ít nhất là 10 chiều) và một phần của mạng lưới đó lọt vào cơ cấu không – thời gian bốn chiều của chúng ta để thành ra thế giới vật chất như chúng ta kinh nghiệm.


Sự tương đồng của khoa học vật lý và Phật giáo

Khi đi sâu vào bản chất của sự vật để tìm ra ý nghĩa và giá trị của toàn bộ đời sống, những nhà khoa học trở thành những triết gia. Einstein tìm ra giá trị và ý nghĩa con người trong những phát biểu tương đồng với Phật giáo: “Giá trị chân thực của một con người được xác định chủ yếu bởi mức độ tâm thức trong đó nó đã đạt đến giải thoát khỏi bản ngã... Một con người kinh nghiệm chính nó, những tư tưởng và cảm nhận của nó như cái gì tách lìa khỏi phần còn lại – một loại ảo tưởng thị giác của ý thức. Sự mê lầm này là một loại nhà tù cho chúng ta, hạn cuộc chúng ta trong những tham muốn cá nhân và luyến thương vài người gần chúng ta nhất. Công việc của chúng ta phải là giải thoát chúng ta ra khỏi ngục tù này bằng cách mở rộng phạm vi thấu hiểu và đem tình thương để bao trùm tất cả vạn vật và thiên nhiên trong vẻ đẹp của nó”.

Đọc bất cứ cuốn sách vật lý nào của thời hiện đại, chúng ta đều có cảm giác thế giới vật lý là một cái gì không thực, thậm chí như một ảo ảnh: “Thí dụ như ta hỏi, liệu electron có giữ nguyên vị trí hay không, ta phải trả lời “không”; vị trí của electron có thay đổi theo thời gian hay không, ta phải trả lời “không”; electron có đứng yên hay không, ta phải trả lời “không”; electron có đang vận động hay không, ta phải trả lời “không”. (R. Oppenheimer).. Những diễn tả về vật lý như vậy đều quy về một hình ảnh như kết luận của kinh Kim Cương:

Tất cả pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bọt, ảnh

Như sương, như điện chớp

Nên quán sát như vậy.

Schrodinger, người viết ra những phương trình sóng lượng tử đã nói: “Thế giới muôn hình muôn vẻ chỉ là sự xuất hiện (appearance, đây cũng là chữ mà các dịch giả dùng để dịch chữ “hình tướng” của Phật giáo ra tiếng Anh), nó không thật”. Eddington nói: “Khái niệm chất thể vật chất đã biến mất khỏi vật lý những hạt căn bản”. Ông nói tiếp: “Gốc rễ chung từ đó sự hiểu biết khoa học và mọi hiểu biết khác phát sinh... là nội dung của ý thức tôi”.

Chúng ta sử dụng năm giác quan và ý thức như thế nào thì thế giới hiện ra với chúng ta như thế ấy. Đây là điều mà Duy thức tông đã nêu lên thành nguyên lý của tông mình: “Ba cõi duy chỉ là tâm, muôn pháp duy chỉ là thức”. Một thí dụ thường gặp trong Phật giáo, khi có người quay tròn một cành củi có đầu than đang cháy trong đêm, chúng ta thấy một “thực thể” là một bánh xe màu lửa, vật tròn màu lửa ấy hẳn phải cứng đặc, như có thực thể. Cái mà chúng ta gọi là vật chất hay nguyên tử (“sắc” theo Phật giáo) hẳn cũng giống như vậy..

Nhưng theo Phật giáo, mặc dù vũ trụ muôn hình muôn vẻ sai khác như vậy, tất cả vẫn là một, tất cả thống nhất với nhau trong sự hòa điệu bí ẩn của “pháp giới nhất tâm”. Sự tương tác trong thống nhất như vậy đã tạo thành cái mà Hoa Nghiêm tông gọi là pháp giới sự sự vô ngại. Nhà vật lý lý thuyết Trịnh Xuân Thuận nói: “Từ thí nghiệm con lắc Foucault, dao động hoàn toàn không đếm xỉa gì đến địa phương xung quanh nó, bất chấp cả trái đất, mặt trời cho đến các cụm thiên hà địa phương. Nó hiệu chỉnh hành trạng của nó theo các thiên hà ở xa hay cũng có nghĩa là theo toàn bộ vũ trụ. Nói một cách khác, tất cả những gì đang ngầm diễn ra trong mỗi chúng ta đều được quyết định trong khoảng bao la của vũ trụ, mỗi một bộ phận đều mang trong đó cái toàn thể và phụ thuộc vào phần còn lại... Dẫu thế nào đi nữa, con lắc Foucault cũng buộc chúng ta phải rút ra kết luận rằng, có một loại tương tác hoàn toàn khác với những tương tác đã được mô tả bởi vật lý học, một loại tương tác bí ẩn không có liên quan với lực hoặc trao đổi năng lượng, mà chỉ có tác dụng liên kết toàn bộ vũ trụ” (Giai điệu bí ẩn – 1988).

Khi khoa học quy thế giới về năng lượng (như vụ nổ lớn Big Bang đã tạo ra vũ trụ chúng ta hẳn phải sinh ra từ năng lượng), vật chất là năng lượng cô đặc lại, thì Phật giáo quy mọi sự về tính Không. Và tính Không không phải là không có gì cả, mà theo những người chứng ngộ trong Phật giáo, như các thành tựu giả Ấn Độ hay như Lục Tổ Huệ Năng [xem chương Bát Nhã hay câu nói “Nào ngờ tự tính (tính Không) vốn tự thanh tịnh, nào ngờ tự tính vốn chẳng sinh diệt, nào ngờ tự tính vốn tự đầy đủ, nào ngờ tự tính vốn không lay động, nào ngờ tự tính sinh ra muôn pháp”], giải thích thì tính Không là thể tính Không chất thể của tất cả mọi sự. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng thế giới như thật (pháp giới) xuất sinh từ Phật Tỳ Lô Giá Na, và tính Không là một phương diện của Tỳ Lô Giá Na hay Đại Nhật Như Lai. Phật có tính vũ trụ, trong kinh Pháp Hoa (phẩm Như Lai thọ lượng và phẩm Như Lai thần lực) cũng nói như vậy.

Khi vật lý hiện đại nói rằng vật chất là năng lượng thì Bát Nhã Tâm kinh nói rằng sắc (vật chất) tức là không. Tính Không này nếu dùng chữ của khoa học là năng lượng toàn thể và thuần túy nhất thì cái toàn thể và thuần túy ấy được kinh nói tiếp “bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh”. Chúng ta đọc thêm cách diễn tả của Trịnh Xuân Thuận: “Vật chất có thể xuất hiện từ chân không nếu có năng lượng đủ lớn được tuôn ra. Chân không là cội nguồn của tất cả... Sự phóng thích năng lượng của chân không trong vũ trụ ở giai đoạn lạm phát còn có một hiệu quả khác cực kỳ quan trọng. Nó sẽ cho ra đời các hạt vật chất vũ trụ... Vũ trụ được tắm trong món xúp của các hạt quark, electron, nơtrinô, phôton và các phản hạt của chúng”.

Nhưng năng lượng của khoa học thì chưa toàn thể và thuần túy, vì đó chỉ là năng lượng của một phần vật chất thô con người biết được mà thôi. Hiện nay chúng ta chỉ mới biết được chưa tới 10% vật chất vũ trụ, còn hơn 90% kia chưa biết được nên khoa học gọi là vật chất tối (dark matter). Nói theo Phật giáo, ngoài vật chất (sắc) còn có những thứ vật chất vi tế hơn, đó là thọ, tưởng, hành, thức. Phải chăng hơn 90% vật chất tối mà chúng ta chưa biết được ấy là những loại hạt mịn hơn, vi tế hơn, mà những máy móc làm bằng vật chất thô của khoa học hiện đại không thể “lọc” ra được. Cái sàng để thí nghiệm của chúng ta quá thô, nó chỉ giữ lại được đá và sỏi, còn cát thì không giữ được, vì không giữ được nên nói là không có, nói là vật chất tối. Và ngoài chất tối ra, biết đâu còn có mấy trăm phần trăm “phi vật chất” tối khác nữa?

Ở đây chúng ta nhìn thấy những giới hạn của khoa học – mà nói theo các nhà vật lý đã trích dẫn ở trên, đó cũng là giới hạn của các giác quan và ý thức của con người – không chỉ tốc độ ánh sáng là giới hạn của vật chất cõi này (nếu bằng tốc độ ánh sáng, vật chất sẽ tiêu tan thành ánh sáng), không chỉ là nguyên lý bất định... mà còn những hạt khác, sóng khác, trường khác.. Như tư tưởng, chúng là hạt nào, có tần số ra sao? Như khi chết, cái thần thức (mà người ta thường gọi là linh hồn) đi tái sinh và cảnh giới trung ấm của nó, chúng là loại hạt nào, sóng nào? Hay chúng ở trong những chiều khác ngoài bốn chiều của thế giới vật lý của chúng ta, những chiều mà chúng ta chỉ dự đoán được qua những phương trình toán học, còn thì không thể nào biết được khi ngày nào chúng ta còn sống trong bốn chiều giác quan hiện thời. Rất nhiều điều chúng ta không biết bằng những dụng cụ thí nghiệm làm bằng vật chất thô của khoa học hiện đại, và chúng ta cho đó là vật chất tối. Ngay cả những hạt quark là những hạt được xem là căn bản nhất của những nguyên tử của cõi này, chúng ta cũng không biết chúng có hiện hữu hay không, hay đó chỉ là những tính toán trên những phương trình để cân bằng hai vế. Với cái nhìn của lý thuyết “màng” hay “dây”, thế giới thực sự thì có nhiều chiều, tiếc thay những chiều đó ở ngoài các giác quan và ý thức của chúng ta, nên chúng chỉ nằm trên những phương trình giả thiết.

Cũng như sự thống nhất vũ trụ mà chúng ta đã nói ở trên, sự thống nhất đó không thể thực hiện bằng cách ghép các sự vật với nhau, bằng cách ghép sóng với hạt, hay ghép các lực với nhau một cách giả tạo, hay thống nhất bằng những phương trình, vì đơn giản người ta không thể sống bằng phương trình, không hít thở bằng phương trình. Sự thống nhất đó chỉ có thể thực hiện, theo Phật giáo, bằng một tâm thanh tịnh, nghĩa là một tâm vượt khỏi sự phân chia chủ thể và đối tượng, thân và tâm, ta và người, ý thức và thế giới, vật chất và tinh thần, vật lý học và siêu hình học, tâm lý học và toán học, đạo đức học và sinh học... Bởi vì nghĩ cho cùng, chúng ta không có cái gì khác hữu hiệu nhất, vi tế nhất, cao cấp nhất ngoài một tâm thanh tịnh. Và có thể nói thêm, trong một nguyên lý của Phật giáo, tâm thanh tịnh thì tất cả thanh tịnh, tâm thống nhất thì tất cả thống nhất.

Một trong những lý do để khoa học gặp gỡ Phật giáo là ngày nay, các nhà vật lý phải đụng chạm đến những vấn đề triết học: chủ thể – đối tượng, vật chất – ý thức, tính liên tục và không liên tục, ngẫu nhiên và tất yếu... Phật giáo không chú trọng lắm đến một hệ thống lý thuyết thỏa mãn trí thức của con người mà chỉ chú trọng đến sự thực hành để tiêu diệt khổ đau, phiền não đạt đến giải thoát, phá bỏ hai cái che chướng là phiền não chướng và sở tri chướng để ngộ nhập thực tại không thể nghĩ bàn (bất khả tư nghì), và lý thuyết chỉ có nhiệm vụ phác họa cho thực hành, thực hành thành tựu thì lý thuyết cũng bỏ, như cái bè phải bỏ khi đã qua đến bờ bên kia. Phật giáo cũng có thể nói là một triết học và lý thuyết triết học đó đã đem lại thành công cho nhiều người suốt hơn 2.500 năm nay.


Con đường Phật giáo

Cũng như khoa học, cũng như tất cả mọi ngành học thuật và nghệ thuật khác, cũng như tất cả mọi lĩnh vực sinh hoạt của con người, Phật giáo cũng đi tìm thực tại tối hậu, thể tính tối hậu của con người, của ngoại vật. Chỉ nói riêng một phương diện của khoa học là sự thí nghiệm, thì Phật giáo cũng có người nghiên cứu thí nghiệm, có dụng cụ thí nghiệm, có đối tượng để thí nghiệm. Phòng thí nghiệm chính là thân tâm của chúng ta, người thí nghiệm và đối tượng thí nghiệm cũng là thân tâm của chúng ta. Thân tâm chúng ta có đủ các nguyên tố căn bản của vũ trụ, từ thô đến tế, cho nên thí nghiệm với đối tượng là thân tâm chúng ta cũng tức là thí nghiệm với đối tượng là vũ trụ.

Chỉ so sánh một dụng cụ hỗ trợ cho thí nghiệm là bộ óc so với máy điện toán, thì như những nhà khoa học nói, dù là máy điện toán thế hệ thứ năm, công năng tư duy của nó chỉ bằng có vài tế bào não, thế thì với một bộ máy điện toán, lại là bộ máy điện toán sinh học, với hàng tỷ tế bào như vậy, hẳn là không một bộ máy điện toán nào so sánh được, dù nó có cao lớn bằng một tòa nhà mấy mươi tầng. Huống gì còn tâm thức con người, cái “chủ thể” quyết định mọi sự, với kinh nghiệm của nhiều kiếp, lại không chỉ là bộ óc, mà chỉ dựa vào bộ óc một phần để làm việc.

Vì với phòng thí nghiệm là toàn bộ thân tâm như vậy, nên khi cuộc “thí nghiệm” thành công thì toàn bộ thân tâm cũng chuyển hóa. Đây là điều khoa học không làm được. Một nhà vật lý khi tìm ra một công thức, một lý thuyết, thân tâm họ không chuyển hóa, họ vẫn như cũ, với những phiền não như cũ, chỉ có thêm được một phần kiến thức mà thôi. Cũng như truyền thuyết của thuật giả kim (alchemy), khi người thí nghiệm thành công, đã làm ra được vàng, thì kỳ diệu thay người đó cũng được chính tiến trình thí nghiệm chuyển hóa, người đó không còn tham sân si để làm ra vàng nữa, bấy giờ toàn bộ thế giới trong tâm thức người ấy đã biến thành vàng.

Nhưng không chỉ có một dụng cụ siêu việt là bộ óc, hay rộng hơn, là cơ cấu thân tâm, Phật giáo còn chỉ dạy làm thế nào đưa cơ cấu thân tâm ấy đến khả năng cao nhất của nó. Chúng ta tiếc rằng, ngay cả một nhà bác học cũng không thể sử dụng hết bộ óc của mình, mà chỉ vận dụng tối đa chưa tới 10% khả năng bộ óc.. Phật giáo giúp chúng ta khai triển khả năng của toàn bộ thân tâm bằng giới, định, tuệ và rất nhiều cái khác không thể nói hết như tín, hạnh, nguyện... tùy từng người với cơ cấu thân tâm mình hợp với những cái nào, “pháp môn” nào. Lấy ví dụ đơn giản, muốn nhìn cho rõ (để thấy thực tại) thì không thể chạy lăng xăng, không thể buồn ngủ hay dùng chất kích thích cho mắt mờ, trí yếu (giới), tâm thức đó phải tập trung (định) và phải biết quan sát một cách tinh tế trong sự tịch lặng mà không bị ám ảnh bởi thành kiến, bởi chủ thể và đối tượng, ta và vật (tuệ).

Chúng ta không thể nói hết về những điều này, chỉ nói chung đường hướng tổng quát của Phật giáo là chuyển hóa con người để con người có thể kinh nghiệm được, sống an trú trong thực tại. K. Marx đã nói “Triết học không phải để giải thích thế giới (như các triết gia trước Marx), mà là để biến đổi thế giới”. Trong một cách nói như vậy, chúng ta có thể diễn tả rằng “Phật giáo không phải là giải thích về thế giới và con người, mà là để chuyển hóa con người, và khi con người được chuyển hóa, thế giới cũng được chuyển hóa (cả nội dung lẫn hình thức)”.

Nguyên lý của Phật giáo là: hãy làm cho tâm thức mình trong sạch, không phiền não, không biến động, không phân chia, khi đó thực tại tối hậu sẽ hiện ra (trong tâm ấy). Và tùy mức độ thanh tịnh của tâm thức đến đâu, thế giới như thật sẽ hiện ra tới mức độ đó. Mặt gương tâm sạch tới đâu, thế giới sẽ hiện ra tới đó. Thiền sư Vô Ngôn Thông, vị khai sáng dòng thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam đã đại ngộ vì câu nói của Thiền sư Bách Trượng: “Đất tâm nếu không, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên chiếu sáng”. Tâm nếu không phân chia chủ thể với khách thể, thân tâm và thế giới, tâm và vật, Phật giáo và khoa học..., nghĩa là không tự phân tán, không tự làm manh mún chính nó, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên soi chiếu, thực tại tối hậu sẽ hiện tiền (hiện ra trước mắt).

Chúng ta đã biết, chính tâm thức và những cơ cấu lý thuyết của nó quyết định sẽ tìm ra cái gì (của thực tại). Phật giáo cũng thế, có điều, với Phật giáo, tâm thức cần quét sạch mọi thứ phiền não nhiễm ô của nó (mà Phật giáo gọi là phiền não chướng) kể cả những kiến thức lâu ngày đã thành thành kiến và những khuôn khổ cơ cấu lý thuyết (mà Phật giáo gọi là sở tri chướng – chúng ta chú ý hai chữ “chướng” này, “chướng” có nghĩa là ngăn che, một ý nghĩa rất “khoa học”) để cho thực tại hiện bày. Cho nên con đường “khoa học” của Phật giáo là Tự tịnh kỳ ý (tự làm thanh tịnh tâm ý mình), điều cuối cùng trong ba điều Phật dạy: “Các điều ác chớ làm. Các điều thiện vui làm. Tự tịnh tâm ý”.

Và bởi vì Phật giáo đưa toàn bộ thân tâm mình – nghĩa là toàn bộ vũ trụ, vì thân tâm mình có đủ mọi nguyên tố (các đại) của vũ trụ – vào công cuộc nghiên cứu thí nghiệm (mà chúng ta gọi là tu hành, thực hành) như vậy, cho nên thực tại mà Phật giáo tìm ra không chỉ là thực tại vật lý của vật lý học, mà còn là thực tại của tâm lý học, của đạo đức học, của mỹ học, của xã hội học... Một thí dụ, chẳng hạn đối với những tông phái cao nhất của Đại thừa, thực tại tối hậu vừa là tính Không (“hữu thể học” hay “thực tại luận”) vừa là đại bi hay tính thiện (có thể xem là “đạo đức học”), vừa là bản tính hay chân tâm (“tâm lý học”), vừa vốn toàn thiện toàn mỹ từ nguyên sơ (mỹ học)...

Như vậy, Phật giáo có thể thống nhất tất cả các ngành học (và tất cả mọi lĩnh vực xã hội) vào trong con đường của mình, con đường đưa đến thực tại tối hậu, đưa đến “thực tướng của tất cả các pháp”, thực tướng của tất cả các hiện tượng. Đó là con đường mà theo lời Đức Phật, toàn thiện ngay từ lúc khởi đầu, toàn thiện ở chặng giữa, toàn thiện ở lúc cuối cùng.


Nguyễn Thế Đăng

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh


Phải chăng Mỹ là “con cọp giấy”


Nhưng Cộng sản Việt nam chớ nghe theo luận điệu này của Trung cộng để một lần nữa biến thành con thiêu thân!. Bất luận Mỹ có là con cọp thật hay là con cọp giấy thì việc bảo vệ tổ quốc phải dựa vào lòng dân và sức dân hãy để cho người dân được tự do biểu lộ và thực hiện lòng yêu nước của mình.Đừng quá sợ hải sức mạnh của Trung cộng. Tôi có một niềm tin sâu xa rằng Trung cộng không thể(và cũng không dám) sử dụng vũ lực để xâm chiếm và đồng hóa được dân tộc Đại Việt chúng ta. Đại Việt không phải là Tây Tạng!!. Tây Tạng đất rộng người thưa. Việt nam hiện nay có gần 90 triệu dân nhưng chỉ có 332.000 km2 .Không gian sinh tồn cho dân Việt Nam đã thiếu huống chi là thêm người Hán?… Chính bản năng sinh tồn của Đại Việt sẽ đánh bại người Hán! Điều này đã được lịch sử chứng minh.

Huỳnh Ngọc Tuấn

Phải chăng Mỹ là “con cọp giấy”


Con cọp giấy” là một khái niệm xuất phát từ những nhà lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc (hình như là từ Mao Trạch Đông) để gọi nước Mỹ một cách mỉa mai nhưng đầy dụng ý… Sau khi Trung cộng đánh bật Quốc Dân Đảng Trung Hoa ra khỏi lục địa, kiểm soát hoàn toàn Đại lục, một mặt Trung cộng tung quân xâm lược Tây Tạng và tham gia vào cuộc chiến Triều Tiên với danh nghĩa: “Chống Mỹ, viện Triều”.

Từ khi lên nắm quyền CSTQ tỏ rõ tham vọng thống trị thế giới bằng vũ lực,bằng “xuất khẩu cách mạng”.. Lúc đó nước CHNDTH còn rất nghèo nhưng không vì vậy mà họ không theo đuổi ý tưởng “phân chia Thiên hạ”.

Sau cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II-Sức mạnh kinh tế-quân sự-uy tín của Mỹ lên rất cao trong khi các nước khác kể cả đồng minh và kẻ thù cũ đều lệ thuộc vào túi tiền của Mỹ…qua những chương trình viện trợ tái thiết hậu chiến dành cho Anh-Pháp-Đức-Ý và ở Phương Đông là Nhật.Tất cả các Đảng CS đều “ngán” Mỹ. Mỹ trở thành một trở lực ghê gớm đối với tham vọng của Trung Cộng. Trung Cộng không muốn (và cũng không dám) trực tiếp đối đầu với Mỹ nhưng không vì vậy mà họ không dám tham chiến với lý do giúp đỡ cách mạng Bắc Triều Tiên.

Tuy bị Mỹ ngáng trở nhưng Trung cộng vẫn không từ bỏ tham vọng bá chủ. Nếu không dám trực tiếp đánh nhau với Mỹ thì họ lại chọn một con đường khác: “Xuất khẩu cách mạng” Bắc Kinh hỗ trợ về tài chính, quân sự và chính trị và cả tư tưởng nửa để hình thành và nuôi dưỡng các Đảng Cộng Sản Maoist ở khắp nơi trên thế giới đặc biệt là ở Đông Nam Á và Nam Á.

Ở Đông Nam Á, Bắc kinh giúp hình thành và hỗ trợ cho các lực lượng thân Trung Cộng như các Đảng Cộng Sản Maoist Mã Lai, Thái Lan, Phi Luật Tân, Indonesia… và cũng nuôi dưỡng giúp đỡ cho các Đảng Cộng sản thân Liên Xô như đảng Cộng Sản Việt Nam, đảng Cộng Sản Lào. Trung cộng còn giúp đỡ để hình thành và huấn luyện cho các Đảng Cộng Sản Maoist ở Ấn Độ, Miến Điện và mạnh nhất là ở Nepan. Trung Cộng dùng các Đảng CS này như đám âm binh để phá rối Mỹ và các nước trong khu vực. Qua các đảng CS này, Trung cộng thực hiện một cuộc chiến tranh “ủy nhiệm”, dùng xương máu của các dân tộc nhược tiểu trong khu vực để mưu đồ bá chủ.

Để biến các Đảng CS ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á thành những tên lính đánh thuê, một thứ tay sai trá hình, ngoài việc viện trợ ồ ạt vũ khí lương thực và tư tưởng, Trung cộng cần phải “lên dây cót” tinh thần cho những Đảng CS này để họ cầm súng chiến đấu cho lý tưởng CS do TC lãnh đạo!!. Vậy là khái niệm “con cọp giấy” ra đời để bêu riếu Mỹ và làm cho các Đảng CS trong khu vực tự tin lao vào chỗ chết.

Trung cộng hô hào với các Đảng CS “anh em” rằng: “Mỹ là con cọp giấy” không đáng sợ!! -phải đánh Mỹ đến “người Việt Nam cuối cùng”,”người Cambodia cuối cùng”, “người Đông Nam Á cuối cùng”. Các đảng Cộng Sản ở Đông Nam Á trong đó có Đảng CS Việt Nam (tuy Đảng CSVN không phải là Maoist hoàn toàn nhưng là một nửa Maoist) đã nghe theo lời “hiệu triệu” này mà họ lao vào cuộc chiến như con thiêu thân, làm cho đất nước tan hoang và tổn thất hàng triệu sinh linh!!…cuối cùng Trung cộng là “Ngư ông đắc lợi”, TC là phù thủy điều khiển đám âm binh là các Đảng CS Maois,buộc Hoa Kỳ phải công nhận họ vì thế và lực của Trung Cộng càng ngày càng lớn…

Khi Mỹ càng ngày càng sa lầy ở Đông Dương và phải “đối mặt” với sự đe dọa hạt nhân từ Liên Xô nên buộc lòng Mỹ phải coi Trung cộng như một đối tác. Tuy TC dùng khái niệm “con cọp giấy” để chỉ Mỹ với thái độ nhục mạ, bêu riếu,làm hạ thanh danh của Mỹ một cách hàm hồ; nhưng đôi lúc những người nghe đến khái niệm hàm hồ này (cả những người thân Mỹ và chống Mỹ) cũng thấy đôi phần có lý!. Họ thấy Mỹ tuy là một siêu cường về kinh tế và quân sự,là một nước đi đầu thế giới trong mọi lĩnh vực,nhưng cái thiếu mà họ nhìn thấy ở Mỹ là Ý chí!..nước Mỹ thừa tiền bạc nhưng thiếu ý chí!?

Chúng ta thử điểm lại một vài sự kiện quan trọng từ khi nhân loại bước vào thế kỷ 21.
Tháng 4 năm 2001,Tổng thống Bush con mới bước vào Nhà Trắng được ba tháng thì xảy ra vụ “va chạm” giữa chiến đấu cơ của Trung cộng và máy bay do thám EP-3 của Mỹ ở không phận quốc tế.. Kết quả một phi công Trung cộng bị tử nạn cùng với một chiếc máy bay cổ lỗ; về phía Mỹ,chiếc máy bay hiện đại bậc nhất bị thương phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam và cả phi hành đoàn 24 người bị bắt giữ,thẩm vấn..Nhưng thắng lợi quan trọng nhất thuộc về phía Trung cộng vì chiếc EP-3 đã bị xà xẻo để ăn cắp những công nghệ tiên tiến nhất cộng với lời”hối tiếc “ của Tổng thống Mỹ trước khi được trao trả cho Mỹ!

Khi Tổng thống Obama cũng vừa mới bước vào Nhà Trắng chưa quen “chỗ ở mới” thì đã xảy ra hai vụ “va chạm” giửa tàu hải quân Mỹ (đang làm công tác thăm dò ở vùng biển quốc tế) và các tàu “đánh cá” của Trung quốc.. Trước đó không lâu một tàu ngầm của Trung cộng đã bám sát theo một chiếc Hàng không mẫu hạm của Mỹ ở một khoảng cách nguy hiểm.Tất cả nhứng vụ gây hấn này cũng chỉ đủ gây ra một số”lời qua tiếng lại” của hai bên,đủ làm đề tài cho các tờ báo trên toàn thế giới khai thác rồi cũng “chìm xuồng”.

Chính vì cách xử lý tình huống căng thẳng (theo cách mềm mỏng được đặt cho một cái tên mỹ miều là “quyền lực mềm’)của Tổng thống Bush và tổng thống Obama làm cho Trung cộng thấy ý tưởng “Mỹ là “con cọp giấy “ là một thực tế!?

Trung cộng trở nên tự tin (và cả tự mãn) khi họ lần lượt vượt qua Đức và Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới với dự trữ ngoại tệ 2500 tỉ đô la Mỹ và là chủ nợ lớn nhất của Mỹ (hơn 800 tỉ Mỹ kim).Và chưa hết, trong cơn suy thoái kinh tế toàn cầu,các nền kinh tế lớn của thế giới như Mỹ,Châu Âu, Nhựt bản bị lao đao trước bờ vực thì nền kinh tế Trung quốc vẫn giữ được mức tăng trưởng cao đến chóng mặt..Với diện tích lớn hơn nước Mỹ một chút,với dân số hơn 1,3 tỉ người,với nền kinh tế đang tăng tốc ngoạn mục,với thế lực quân sự ngày càng lớn (hiện nay chỉ đứng sau Hòa Kỳ),với nền văn hóa, tư tưởng rực rỡ của quá khứ….thì làm sao người Trung quốc không tự mãn cho được ? Bất cứ một dân tộc nào hội đủ những điều kiện như trên mà không mơ ước đến một tương lai huy hoàng hơn,hoành tráng hơn,vĩ đại hơn thì đó mới là điều lạ?! Nhất là đối với người Hán (Đại Hán!).

Cho nên không có gì lạ khi Trung cộng muốn vẽ lại bản đồ thế giới,xác lập lại trật tự thế giới khi họ hoàn toàn có khả năng làm điều đó. Những diễn biến ở Đông Á thời gian gần đây làm cho mọi người suy nghĩ … việc Trung cộng “ngỏ lời” muốn chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ, rồi việc Trung cộng chính thức đệ trình lên Liên Hiệp quốc bản đồ hình lưỡi bò để xác định hơn 80% biển Đông Nam Á là của Trung cộng. Và mới đây Trung cộng đã chính thức đặt biển Đông Nam Á(họ gọi là biển Hoa nam) vào diện”lợi ích cốt lõi” (có nghĩa là Trung công sẽ không khoan nhượng cho bất cứ ai về biển Đông Nam Á và họ đặt biển Đông Nam Á ngang hàng với Tây Tạng ,Tân Cương, Đài Loan…Điều này thể hiện “ý chí” của họ và cũng là cách họ muốn thử thách thái độ của Mỹ). Vì vùng biển Đông Nam Á là một hải lộ cực kỳ quan trọng đối với Mỹ và các đồng minh chiến lược của Mỹ như Nhật bản, Nam hàn.

Tháng 5 năm 2010, Bắc Hàn dùng ngư lôi tấn công hủy hoại một tàu chiến của Nam Hàn làm tổn thất 46 sinh mạng.Theo tôi bắc Triều Tiên làm việc này là do sự chỉ đạo của Trung cộng để thăm dò ý chí của Mỹ (cụ thể là tổng thống Obama và nội các), thử thách liên minh Mỹ_Hàn.

Để “đáp trả” lại sự gây hấn của Bắc Triều Tiên, Mỹ Hàn đã mở những cuộc tập trận quy mô lớn chưa từng thấy nhằm răn đe Bắc Triều Tiên (và cả Trung Cộng ở phía sau) nhưng sự hiện diện của siêu hàng không mẫu hạm George Washington làm Trụng cộng phản ứng dữ dội: Bộ quốc phòng Trung quốc ra lệnh cho lực lượng phòng vệ sẵn sàng tấn công tàu sân bay của Mỹ nếu họ “dám” xuất hiện ở Hoàng Hải!?. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Trung cộng Trì Hạo Điền còn lớn tiếng kêu gọi một cuộc chiến toàn diện,dùng vũ khí hạt nhân để “đánh cho Mỹ bị trọng thương,đánh tiêu diệt hoàn toàn Nhật bản”. Trước phản ứng dữ dội của Trung cộng,Mỹ phải nhượng bộ. Tuy vẫn giữ kế hoạch tập trận cùng Hàn quốc ở Hoàng hải nhưng với quy mô nhỏ,và nhất là không có sự hiện diện của hàng không mẫu hạm George Washington.Điều này khiến cho những cuộc tập trận này không còn ý nghĩa gì lớn,mặc dù trước đó phát ngôn nhân của Bộ Quốc phòng Mỹ đã khẳng định: “tập trận ở đâu,vào lúc nào là quyền quyết định của chúng tôi”. Rõ ràng đây là sự thoái bộ của Mỹ trong hồ sơ đầy sóng gió này.

Và ngày hôm qua, 10/9/2010, tàu cá Trung cộng đã đâm vào (một hành động tấn công) một tàu tuần dương của Nhật. Ngay lập tức nhiều nơi tại Trung quốc nổ ra những cuộc biểu tình nhằm kích động tinh thần dân tộc chống Nhật…Bộ Ngoại giao ,Quốc Vụ viện TC đưa ra những lời lẽ cao ngạo trịch thượng để cảnh cáo Nhật! Phải chăng lần này Trung cộng lại muốn thử thách liên minh Mỹ -Nhật sau khi đã thành công trong vụ thử thách liên minh Mỹ -Hàn? Điều này chắc chắn sẽ làm cho cánh diều hâu trong quân đội TC và những người theo tinh thân dân tộc cực đoan tại Trung quốc hỉ hả nhất là điều này lại xảy ra khi hai quan chức cao cấp của Mỹ sang thăm Bắc Kinh nhằm làm dịu tình hình.và theo RFI,”quan hệ Mỹ-Trung đã nồng ấm trở lại”…

Lần này Trung Quốc đã “vuốt mặt” mà không “nể mũi” rồi!

Chẳng lẽ tất cả lại “chìm xuồng” một lần nữa như trước đây?!

Khái niệm “Mỹ là con cọp giấy” ám ảnh nhiều người,nhất là những ai quan tâm đến sức mạnh bá quyền của Trung cộng. Những người Việt nam yêu nước và yêu dân chủ càng quan ngại nhiều hơn, vì nếu Mỹ nhượng bộ Trung cộng thì tương lai của khu vực sẽ tối tăm,đầy bất trắc và các nước Đông Nam Á,nhất là Việt Nam sẽ tìm cách thỏa hiệp với TC,(có khi tồi tệ hơn thế) xếp hàng dưới bóng cờ của Trung cộng là điều khó tránh. An ninh và tương lai của nước Mỹ cũng sẽ bị thử thách và đe dọa.

Một lần nữa, khái niệm “Mỹ là con cọp giấy” là một điều ảm ảnh thực chăng?!

Chúng ta hãy chờ xem.

Nhưng Cộng sản Việt nam chớ nghe theo luận điệu này của Trung cộng để một lần nữa biến thành con thiêu thân!. Bất luận Mỹ có là con cọp thật hay là con cọp giấy thì việc bảo vệ tổ quốc phải dựa vào lòng dân và sức dân hãy để cho người dân được tự do biểu lộ và thực hiện lòng yêu nước của mình.Đừng quá sợ hải sức mạnh của Trung cộng. Tôi có một niềm tin sâu xa rằng Trung cộng không thể(và cũng không dám) sử dụng vũ lực để xâm chiếm và đồng hóa được dân tộc Đại Việt chúng ta. Đại Việt không phải là Tây Tạng!!. Tây Tạng đất rộng người thưa. Việt nam hiện nay có gần 90 triệu dân nhưng chỉ có 332.000 km2 .Không gian sinh tồn cho dân Việt Nam đã thiếu huống chi là thêm người Hán?… Chính bản năng sinh tồn của Đại Việt sẽ đánh bại người Hán! Điều này đã được lịch sử chứng minh.

Nếu Trung quốc liều lĩnh xâm chiếm chúng ta bằng vũ lực thì sẽ bị sa lầy và sẽ bị đánh bại một cách nhục nhã bởi ý chí chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, trong lịch sử họ đẫ nhiều lần bị dân tộc chúng ta đánh bại. Còn nữa, nếu Việt Nam bị Trung cộng xâm chiếm thì Mỹ và thế giới không thể làm ngơ, họ sẽ giúp chúng ta chiến đấu, vì quyền lợi của tất cả các bên. Tôi nghĩ những nhà hoạch định chiến lược của Trung cộng không quá ngu ngốc để phiêu lưu!! Và một lần nữa tôi khẳng định, Việt Nam không phải là Tây Tạng. (Trường hợp Tây Tạng, chính thế giới đã công nhận Tây tạng là một phần của Trung quốc, như vậy đã cướp mất tính chính đáng của người Tây Tạng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của mình. Thế giới này phải chịu trách nhiệm. Đây là một sự sỉ nhục cho lương tri nhân loại!).

Viêt Nam là một quốc gia Độc lập, là thành viên Liên hiệp quốc, là một dân tộc kiêu hùng, bách chiến bách thắng. .. Vấn nạn của dân tộc chúng ta hôm nay chính là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nhu nhược với một tâm thức nô lệ và một ý thức hệ hoang đường. Họ không biết hay giả vờ không biết việc này nên mới cúi đầu trước quân xâm lược?!


Huỳnh Ngọc Tuấn

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh


13 September 2010

Hòa giải dân tộc không chỉ thả tù binh Cọng Hòa mà phải là đại xá toàn dân


Mọi người Việt Nam phải được thủ đắc quyền và nghĩa vụ được ghi rõ ràng trong hiến pháp. Ðảng csvn chỉ là một bộ phận của dân tộc chứ không phải là một ngoại lệ để có quyền đứng trên và ngoài hiến pháp. Dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc bị trị dưới quyền của đảng csvn. Ðảng Cộng sản Việt Nam chỉ là con dân, chứ không phải là cha mẹ dân tộc Việt Nam.

Bao lâu đảng cọng sản Việt Nam chưa thể hiện được hai bước căn bản này thì hận thù dân tộc sẽ ngày càng chồng chất theo thời gian, và hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ là cái bong bóng nước bọt trên đầu môi của mỗi người dân Việt mà thôi.

Thiên Ðức

Hòa giải dân tộc không chỉ thả tù binh Cọng Hòa
mà phải là đại xá toàn dân


Trong thời gian gần đây, trên trang mạng Bauxite Việt Nam có phổ biến bài viết với tựa đề: “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cọng Hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hoa giải dân tộc“

Bài viết kết thúc như sau:

“Nhân danh con trai Nhà thơ Huy Cận, Bộ trưởng thành viên Chính phủ khai sáng nền Cộng hòa và nhân danh cá nhân, kiến nghị Quốc hội khẩn cấp thực hiện Hòa giải dân tộc bằng:

1. Ðại xá tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo Khoản 10 Ðiều 84 Hiến pháp (Quốc hội quyết định đại xá).

2. Lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu thay cho “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Khoản 1 Ðiều 84 Hiến pháp (Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp).
(1)

Qua bản kiến nghị trên, hai cụm đại xá và hòa giải dân tộc đã sử dụng một cách ngộ nhận, gây nhiều tranh cãi.

1) Ðại xá:

Trở lại thời điểm lịch sử vào năm 1975, khi những người lính Cọng Hòa miễn cưỡng buông súng theo lệnh của vị chỉ huy đầu đàn là tướng Dương Văn Minh, cũng là lúc chế độ mới thiết lập tại miền Nam Việt Nam. Nhằm hòa giải dân tộc, để thông suốt chánh sách đường lối cai trị mới, nhà cầm quyền đã đề ra chính sách học tập cải tạo toàn bộ quân nhân cán chính miền Nam Việt Nam, mang theo lương thực đủ ăn 10 ngày hoặc một tháng tùy theo cấp bậc. Và thực tế cho đến nay hơn 35 năm, vẫn còn có những người tham gia học tập cải tạo chưa được về với gia đình?

Ðiều này nói lên một thực tế là đảng cọng sản Việt Nam đã phản bội lại chính mình, đã lợi dụng chính sách học tập cải tạo để trả thù đê tiện những người từng phục vụ dưới chế độ Cọng Hòa, với một lý do duy nhất là những người này không bao giờ tự nhận là người có tội với tổ quốc và dân tộc.

Thật vậy họ là những người bảo vệ tổ quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa không để rơi vào tay ngoại bang, họ là những người đã từng cưu mang một triệu người miền Bắc chạy trốn chế độ cọng sản miền Bắc vào năm 1954. Thì làm sao có thể buộc họ có tội với tổ quốc và nhân dân? Họ là những người từng cầm súng bảo vệ quê hương làng mạc nơi họ đang sống để chống lại mọi cuộc xâm lăng bất cứ từ đâu tới. Họ chưa từng cầm súng chiếm đoạt một vùng đất nào ngoài lãnh thổ của họ, nhưng cũng chưa để mất một tấc đất nào của tổ tiên để lại.

Theo lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Ngọc Quang về cựu đại úy địa phương quân Nguyễn Hữu Cầu, quân lực VNCH hiện đang bị học tập cải tạo 34 năm nay như sau:

Sống trong tù với anh Nguyễn Hữu Cầu một thời gian không dài lắm, tôi cảm phục chí khí bất khuất kiên cường của anh Nguyễn Hữu Cầu. Anh đã gần 500 lần viết những lá đơn để kháng cáo tội bị gán cho mình. Nhà tù đã dùng biết bao cực hình để khuất phục ý chí của anh. Nhưng chưa một lần nào viết bản kiểm điểm mà anh ghi vào đó rằng “tôi nhận tội” cả. Mà anh ghi như thế này, “Tôi luôn luôn giữ quan điểm của mình là tôi vô tội. Người có tội chính là đảng CSVN”. Vì vậy anh luôn luôn bị biệt giam, bị cùm.

Ðối với người tù bất khuất Trương Văn Sương với thời gian 33 năm 4 tháng trong trại cải tạo vừa ra trai đã tuyên bố:

“Trong những ngày bị lao tù, tôi cũng mong một ngày nào đó có được một giải pháp chính trị để họ thả tôi ra. Thật ra, tôi không nghĩ rằng họ có nhân đạo thả tôi, hoặc tôi cũng không nghĩ rằng tôi là người cải tạo tiên tiến để được đặc xá hay giảm án, tha án gì. Tôi mong rằng có một giải pháp chính trị nào đó để giúp giải quyết cho những người tù chính trị.” (2)

Giả thiết, đảo ngược lại, có một đội quân ngoại nhập nào đó đến cướp đất đai, mồ mả làng xóm của những người cọng sản nói chung, hay của gia đình ls. Cù Huy Hà Vũ nói riêng, rồi bắt cha, ông những người dân trong vùng này đi biệt tích trong 35 năm, ép buộc họ nhận tội mới được thả ra có hợp lý không? Mong ông Cù Huy Hà Vũ trả lời theo lương tâm của một người con yêu của đất nước và theo lương tri của một người đã thành đạt trong ngành luật.

Ðảng csvn và nhà nước đã từng kêu gọi xếp lại quá khứ hướng về tương lai, thế mà giờ này vẫn còn giam giữ tù binh Cộng Hòa với bất cứ lý do gì, cũng là một điều nghịch lý đáng phê phán. Những người tù này phải được trả tự do vô điều kiện, và hành vi thả tù binh này không mang ý nghĩa hòa giải dân tộc như đã chứng minh trên, mà chỉ là một hành vi của lương tâm và đạo lý giữa con người Việt Nam với nhau.

Sự việc gán ghép hành vi trả tự do toàn bộ những người phục vụ chế độ Việt Nam Cọng Hòa sau ba mươi lăm năm giam giữ với ý nghĩa hòa giải dân tộc là một hành vi không trong sáng, cố tình đánh tráo lịch sử.


2) Hòa giải dân tộc:

Khi đất nước chấm dứt tiếng súng, hai miền Nam Bắc nối liền nhau, đảng csvn đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng, đó là dựa trên lý tưởng “Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại” để chia dân tộc Việt Nam ra hai thành phần “Vô sản và không vô sản”.

Ðặc biệt thành phần “không vô sản” phải bị tiêu diệt dưới mọi hình thức. Là người Việt Nam không ai không biết hậu quả của chính sách cải cách ruộng đất, “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ, cải cách công thương nghiệp, tổ chức bán dân, bán bãi xô đẩy người dân vào lòng biển cả…, chính sách mở rộng cửa tù cho những người có tiếng nói khác biệt. Tất cả đó chính là nguồn gốc của hận thù dân tộc.

Hình trái: Bia tưởng niệm thuyền nhân, dấu ấn của hận thù hay hòa giải dân tộc? Ai gây ra cảnh này?

Hận thù Quốc Cộng (nếu có?) xảy ra trong chiến tranh và đang tàn lụi theo thời gian. Hận thù dân tộc do đảng cs gây nên xảy ra trong hòa bình, kéo dài từ khi có đảng cho đến ngày nay.

Những người phục vụ chế độ Việt Nam Cọng Hòa không gây hận thù dân tộc, mà chính đảng cọng sản gây ra và nuôi dưỡng hận thù dân tộc.

Nội hàm này người viết đã từng nhiều lần trình bày rõ ràng qua nhiều loạt bài viết như:
- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Xếp lại quá khứ? (3)
- Hòa hợp hòa giải dân tộc (4)
- Phong thủy tính sổ ngày tàn chế độ cọng sản Việt nam. (5)

Không ai có thể nhập nhằng và đánh tráo lịch sử giữa hòa giải dân tộc và hòa giải “Quốc Cộng” để trốn tránh trách nhiệm trước lịch sử.

Muốn hòa giải dân tộc chỉ có một con đường duy nhất đó là đảng cọng sản Việt Nam phải biết tôn trọng dân tộc Việt Nam thể hiện qua hai bước:

- Thứ nhất: Ðại xá toàn dân tộc vô điều kiện những người đang bị giam giữ tại quốc nội hoặc lưu đày ngoại quốc, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, thành phần giai cấp, địa vị xã hội.

- Thứ hai: mọi người Việt Nam đều có quyền bình đẳng ngang nhau, có nghĩa là đảng cọng sản Việt nam phải hoạt động trong vòng hiến pháp và luật pháp, ngang bằng với toàn dân tộc Việt.


Không thể có hòa giải dân tộc khi toàn dân tộc bị áp bức tù đày, bất công của luật pháp tồi tệ hơn cả thời kỳ Pháp thuộc, trong khi đảng csvn ngồi xổm trên hiến pháp và luật pháp như chính ông Nông Ðức Mạnh đã tuyên bố:

Theo Vietnamnet ngày 26/6/2010, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh khẳng định: “Bộ máy Nhà nước ở Việt Nam không hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà có sự phân định nhiệm vụ, hoạt động thống nhất dưới sự lãnh đạo của Ðảng”. (6)

Mọi người Việt Nam phải được thủ đắc quyền và nghĩa vụ được ghi rõ ràng trong hiến pháp. Ðảng csvn chỉ là một bộ phận của dân tộc chứ không phải là một ngoại lệ để có quyền đứng trên và ngoài hiến pháp. Dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc bị trị dưới quyền của đảng csvn. Ðảng Cộng sản Việt Nam chỉ là con dân, chứ không phải là cha mẹ dân tộc Việt Nam.

Bao lâu đảng cọng sản Việt Nam chưa thể hiện được hai bước căn bản này thì hận thù dân tộc sẽ ngày càng chồng chất theo thời gian, và hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ là cái bong bóng nước bọt trên đầu môi của mỗi người dân Việt mà thôi.

Luật sư Cù Huy Hà Vũ nói riêng và giới sĩ phu Việt Nam nói chung mong muốn Việt Nam có hòa giải dân tộc nên nhìn thẳng vào thực tế để thực hiện một bước cụ thể trong thời gian sắp tới nhân dịp sửa đổi hiến pháp đó là:

- Ðề nghị chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc trở thành quốc sách, phải được ưu tiên thi hành trong hiến pháp, trước tiên đại xá toàn dân, ngăn chận mọi hành vi trả thù phát xuất từ nhiều phía, và mọi công dân Việt Nam đều được quyền bình đẳng và hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ ghi rõ trong hiến pháp không có ngoại lệ. Ðảng cọng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận dân tộc phải nằm trong hiến pháp.

Sự dũng cảm và đấu tranh nói lên sự thật là đáng khen ngợi, thế nhưng đánh tráo sự thật hay chỉ nói lên một nửa sự thật sẽ không bao giờ có kết quả như một sự thật đáng có.


Thiên Ðức

Ghi chú:

1)- Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cọng Hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc
http://boxitvn.blogspot.com/2010/08/kien-nghi-tra-tu-do-cho-tat-ca-tu-nhan_31.html

2)- Còn biết bao người tù chính trị bất khuất trong cảnh đọa đày
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/Plight-of-long-term-political-prisoners-in-vn-tquang-07252010125719.html

3)- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Xếp lại quá khứ?
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=45&nid=107413

4)- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Ðể hòa giải hòa hợp dân tộc
http://anhduong.net/binhluan/May07/bai_viet_doi_thoai_voi_ong_vo_van_kiet_2__unicode_.htm

5)- Phong thủy tính sổ ngày tàn chế độ cọng sản Việt nam.
http://thongtinberlin.de/diendan/tinhsongaytanchedocsvn03.htm

6)- Nhà nước CHXHCNVN không phải là nhà nước pháp quyền
http://boxitvn.blogspot.com/2010/06/nha-nuoc-chxhcn-viet-nam-không-phai-la.html


Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh




Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi. Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.
Nhà cầm quyền cộng sản, hơn lúc nào hết, luôn buộc người dân lo nghĩ đến chuyện miếng ăn, cái mặc. Cái bụng lúc nào cũng phải cảm thấy còn đoi đói, chưa no. Và người dân thì thiếu thốn nhu yếu phẩm, lo chạy gạo từng bữa. Ðủ hôm nay thì thiếu ngày mai, hay được nồi cơm sáng, thì lại chưa có nồi cơm chiều. Cuộc đời cứ quần quật lo đói rách như thế, thì xin hỏi, còn chi thì giờ mà nhân dân nghĩ đến tranh đấu, hoặc đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền?
Cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh từng dạy: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường. Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi”.
"The religion of the future will be a cosmic religion. The religion which is based on experience, which refuses dogmatism. If there's any religion that would cope with modern scientific needs it will be Buddhism." Albert Einstein

Tôn giáo trong tương lai sẽ là tôn giáo của vũ trụ. Tôn giáo này dựa trên kinh nghiệm và không chấp nhận chủ nghĩa giáo điều. Nếu có một tôn giáo nào tương thích với khoa học hiện đại, đó chính là Phật Giáo.




Bạn Ơi Hãy Cùng Nhau Đấu Tranh Cho Cuộc Sống Của Mình & Tương Lai Của Con Cháu Mình !!!



Nhân Dân Cần Nhận Diện Bộ Mặt Thật Của Giới Cầm Quyền. Phải Hành Động Cụ Thể Đối Với Bọn Chúng !!!



Chỉ Mặt, Nhận Diện Bọn Cán Bộ Óc Đất, Lũ Công An Lưu Manh, Đám Quan Chức Tham Nhũng, Tay Sai !!!

Công Nhân Bị Đánh Đập Tàn Nhẫn, Dã Man !!!


Followers