29 July 2010

Vì sao cuộc đấu tranh nhân quyền–dân chủ cho Việt Nam chưa có thành tựu lớn?


Mỗi nhà dân chủ phải biết mình đang ở nhóm nào trong ba nhóm trên đây để có định hướng, chọn lựa thái độ và đường hướng tốt nhất.

Mỗi nhà dân chủ phải nắm rõ luật, công ước quốc tế về nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận…

Nhân quyền–dân chủ cho Việt Nam sẽ đi đến đâu, phát triển như thế nào không dựa vào những hành động và ý kiến đơn lẻ của những cá thể. Đó là công cuộc chung có trả giá, có hy sinh của một dân tộc, một quốc gia – Việt Nam.

Liêu Thái

Vì sao cuộc đấu tranh nhân quyền–dân chủ
cho Việt Nam chưa có thành tựu lớn?


Ba luồng tâm thức

1. Những người đấu tranh cho nhân quyền-dân chủ từ tâm thức nông nghiệp

Biểu hiện: bất nhất, không có cương lĩnh, chủ trương, được chăng hay chớ, lo sợ cho quyền lợi cá thể, luôn đứng ở tâm thế thấp bé, sợ quyền lực nhưng trong trường hợp có người chủ xướng đứng ra nhận lãnh, gánh trách nhiệm thì rất hăng hái, một kiểu hăng hái của lửa rơm, chóng bùng phát, chóng lụi tàn, không ổn định, có tính nhất thời, cũng có thể tắt ngấm ngay sau đó và thường dễ dẫn đến quá khích, có nguy cơ bạo động.

Thành phần: thường là những người liên quan đến nông nghiệp, xuất thân con nhà nông, cố gắng học hành, làm việc để thay đổi cuộc đời, thay đổi số phận, để chén cơm, manh áo được đầy đủ, lành lặn hơn…

Quyền lợi: tùy thuộc vào mức độ kinh tế của chính họ và khả năng tài trợ từ bên ngoài trong suốt quá trình cho đến trở về sau.

Động cơ hoạt động: nặng về quyền lợi vật chất hơn là yếu tố tinh thần như văn hóa, ý thức pháp luật và ước vọng dân chủ, nhân quyền.

Cương vực hoạt động: khá rộng, có thể nằm lẫn lộn trong tầng lớp trí thức, các tôn giáo, trong thành phần doanh nhân và các thành phần đóng vai trò cốt cán của xã hội như nhà báo, giáo viên, giảng viên, thậm chí nhà nghiên cứu, nhà hoạt động chính trị, nhà văn…

Tâm lý: nặng về sợ hãi (đây cũng là dấu vết, vệt nối của suốt mấy ngàn năm nô lệ từ trong ra ngoài, vâng dạ, tuân phục của chế độ phong kiến cho đến cộng sản độc tài sau này) nhưng vì thấy người khác làm và kêu gọi thì mình làm nhưng rất mơ hồ về chủ trương và không có ý thức hệ rõ ràng. Dễ bị thao túng và dễ bị biến thành nội gián, phản phé của nhau.

Những yếu tố trên đây khiến cuộc đấu tranh nhân quyền–dân chủ ở Việt Nam thường vấp phải lực cản vô cùng lớn, bởi nhóm tâm thức nông nghiệp vốn chiếm tỉ lệ rất lớn (có thể là trên 60%) trong tập hợp đấu tranh nhân quyền–dân chủ. Những cuộc thương thảo, trình bày chính kiến của nhóm này cũng không ổn định, thường không có tổ chức cụ thể, không có qui mô, đường hướng lâu dài. Thậm chí người ta có thể bàn về thế sự, chính trị ngay trong bàn tiệc, trong bữa nhậu, trong ngày giỗ, khi có hơi men bốc lên đầu… Và kết quả là có thể lúc đó bị cuốn hút vào câu chuyện, hô hào mạnh miệng, nhưng khi về nhà thì quên hết mọi chuyện, nếu nhớ cũng suy nghĩ lại, rút êm… Chấp nhận thực tại.

Nói chung, đây là nhóm có hoạt động nhân quyền–dân chủ nhưng lại có nguy cơ gây phân rã cao nhất cho hoạt động này.’

2. Những người đấu tranh cho nhân quyền-dân chủ từ tâm thức vượt thoát nông nghiệp

Đặc điểm: về căn bản họ là những trí thức, có nguồn gốc, xuất thân ít gần với nông nghiệp, nếu không nói là hoàn toàn tách biệt nông nghiệp ít nhất cũng một thế hệ. Họ có cơ hội tiếp cận, lĩnh hội và thụ đặc các nền văn hóa phương Tây, nền giáo dục phương Tây, hiểu rõ ý nghĩa của nhân quyền–dân chủ và nhìn ra được giá trị của nó trong tương lai phát triển của đất nước, dân tộc nói riêng và toàn cầu nói chung…
Biểu hiện: bất bạo động và dựa trên những phân tích khoa học, lấy khoa học, đạo đức và pháp luật làm kim chỉ nam, làm nền tảng hoạt động. Có chủ trương, đường hướng và triết lý trên cơ sở một tổ chức (tạm) vững vàng, ổn định, thậm chí có tuyên ngôn riêng. Khối 8406, Đảng Dân chủ, Đảng Việt Tân, Đảng Vì Dân, Đảng Thăng tiến, Đảng Dân chủ Thế kỉ 21… là những ví dụ.

Những trí thức hoạt động trong nhóm này như: nhà sư, mục sư, linh mục, luật sư, nhà báo, nhà văn, giáo sư… (Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Phạm Thanh Nghiên, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung, Huỳnh Nguyên Bảo, Đỗ Thành Công…) có bản lĩnh chính trị, nền tảng khoa học, tôn giáo và cơ sở niềm tin, vật chất cũng như tinh thần rõ ràng, kiên định.

Trở lực của họ không có tính nội tại (động cơ cơm áo, gạo tiền, sự yếu ớt về bản lĩnh chính trị, sự không rõ ràng về chính kiến và sự khiếm khuyết về mặt văn hóa, khoa học…) như nhóm trên mà thường là lực cản bên ngoài, cụ thể là từ phía đối lập. Phía đối lập ở đây chính là nhà nước cộng sản độc tài Việt Nam – một thế lực có phương thức hoạt động na ná thời phong kiến bởi những qui định một chiều, tính bảo thủ về tư tưởng, chính trị, tính cưỡng chế thành phần đối lập, lấy hoạt động bạo hành, lấy sức mạnh công an, quân đội để cai trị và bao biện cho hàng loạt hoạt động mờ ám, phương hại đến tài sản, quyền lợi và tính mạng nhân dân…

Nếu như ở nhóm trên, kết cục là sự phân rã nội bộ, ngưng trệ hoạt động thì ở nhóm này, kết cục vẫn là một ẩn số mang niềm tin. Họ có chủ trương và lòng kiên định, nên sức mạnh tù đày và bạo lực không thể đốt cháy được sức mạnh niềm tin và ý chí của họ. Sức hút của nhóm này đối với các thành phần khác trong xã hội luôn là nỗi lo lớn của nhà nước độc tài Việt Nam. Sức thuyết phục về mặt trí tuệ, sức lan tỏa về mặt ý thức hệ và sức hấp dẫn, mới mẽ về mặt lý luận, chủ thuyết của nhóm này luôn đẩy nhà nước độc tài vào ngõ cụt lý luận. Chính vì vậy, chủ nghĩa cộng sản luôn gặp khủng hoảng lý luận trước họ. Và đây chính là mấu chốt, nguyên nhân của những cuộc bắt bớ, những phiên tòa vô lý ghép tội những nhà hoạt động nhân quyền, dân chủ của nhóm này.
Với nhóm này, mọi vấn đề đang ở phía trước.

3. Những người đấu tranh cho nhân quyền-dân chủ giao thoa giữa hai luồng trên

Có thể nói đây là nhóm có vấn đề nhất trong tiến trình đấu tranh nhân quyền–dân chủ. Thành phần của nhóm này cũng đa dạng, phức tạp nhất. Trong một nghĩa nào đó có thể gọi đây là nhóm ba rọi, lẫn lộn giữa trí thức và phàm phu, kiên định và bất nhất, cách mạng và cải lương…

Về mặt tổ chức, ở nhóm này có hình thức giống như nhóm 2, cũng có qui mô, tôn chỉ, đường hướng…

Về mặt tâm lý, điểm khác căn bản giữa nhóm này với nhóm 2 nằm ở chỗ thành phần cá thể trong nhóm lẫn lộn, pha tạp nhiều nguồn khác nhau, nên nhóm này có khuynh hướng rớt xuống nhóm 1 trong một số trường hợp như: thời gian đấu tranh lâu dài, nguồn kinh phí hạn hẹp, có những chuyển biến đột xuất trong chính trị khiến họ hoang mang, mất kiên định và có suy nghĩ khác trước, thậm chí nản lòng, bỏ cuộc.

Độ bền của nhóm này không cao, ở một số điều kiện cụ thể như: không nhận được sự ủng hộ, cổ xúy và đóng góp về vật chất cũng như tinh thần từ bên ngoài, họ sẽ đổi hướng và rất có thể quay ngược 180 độ với chính kiến ban đầu. Chính vì vậy mà gần đây, trên các diễn đàn thường xuất hiện những bài viết của chính những người từng một thời đi tiên phong trong nhóm mang tâm trạng bi quan, buông xuôi và thậm chí bất đồng với những người đấu tranh nhân quyền, dân chủ còn lại.

Đặc điểm nổi trội của nhóm này là sự không đồng đều về mặt tri thức, sự không ăn khớp về cấp độ dân sinh, dân trí nên thường có những ngộ nhận, hiểu sai khái niệm về đấu tranh nhân quyền, dân chủ, gây hiệu ứng ngược. Những cuộc đụng độ có tính bạo động với các nghệ sĩ từ trong nước, những bài viết hùa theo sự xuống cấp của một bộ phận nhỏ, những bài viết (của một vài người có cách hiểu lệch lạc và luôn phục kích) khích bác hành động bạo lực của một vài người và qui kết rằng đó là hành vi của đấu tranh nhân quyền, dân chủ, gây hiểu sai khái niệm. Vì bản chất của đấu tranh nhân quyền, dân chủ không bao giờ có tính bạo lực hay bạo động. Vì lẽ chí ít, khi đấu tranh nhân quyền, dân chủ cho một số đông, một dân tộc thì dù gì cũng bắt buộc nhà đấu tranh tôn trọng nhân quyền, dân chủ của đối tác, đối phương – cụ thể ở đây là người của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì họ cũng là con người. Nhân quyền, dân chủ sẽ không bao giờ đến bằng con đường bạo lực, bạo động.

Một biểu hiện khác ở nhóm này là cách định nghĩa về đấu tranh nhân quyền–dân chủ của họ có vấn đề, dễ dẫn đến bạo lực cục bộ và gây hoang mang, nản chí, bài xích, nói ngược, thậm chí gièm pha, chế giễu những người đấu tranh của nhóm khác và của chính nhóm mình. Đã có rất nhiều bài viết đồng nhất hành vi xịt hơi cay của Lý Tống vào ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng với hành động đấu tranh nhân quyền, dân chủ. Kiểu đồng nhất này hoàn toàn sai và gây ngộ nhận cho nhóm 1 cùng những phần tử khác của nhóm 3.

Nếu xét về tính ổn định thì nhóm này có độ ổn định thấp nhất trong ba nhóm vì sự pha tạp quá nhiều thành phần, màu sắc, vai trò của các thành viên trong nhóm. Điểm nguy hiểm dễ nhìn thấy nhất ở nhóm này là sự thiếu rõ ràng, có lúc đóng vai nhà sử học, học giả, trí thức yêu nước, có lúc đóng vai nhà đấu tranh chính trị, có lúc đóng vai kẻ bạo động bất khả đồng thuận, có lúc đóng vai người vô can… Và đặc biệt khi có một quyền lợi nào được trao từ phía đối phương – Đảng Cộng sản Việt Nam thì họ có nguy cơ quay mặt với “đồng đội”, trở mặt với người đấu tranh dân chủ tiến bộ. Hệ quả là làm phân rã, lũng đoạn tiến trình.

So với nền tảng tri thức khá vững vàng của nhóm 2, những lập luận của các phần tử trong nhóm này thường không có cơ sở khoa học, thiếu thuyết phục với những người kiên định và thậm chí ngụy biện…

Cả ba nhóm này có thể ở chung trong một tập hợp hoặc khác tập hợp nhưng có sự hiện hữu của ba nhóm theo kiểu đan chéo, phân bổ theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Điều này gây nên một sự rắc rối nan giải cho công cuộc đấu tranh nhân quyền–dân chủ của người Việt.

Vì sao cuộc đấu tranh nhân quyền–dân chủ cho Việt Nam chưa có thành tựu lớn?

Sau một quá trình dài hơn ba mươi năm (nếu không nói là hơn bảy mươi năm?, vấn đề nhân quyền, dân chủ Việt Nam vẫn còn ở một khoảng cách rất xa với đời sống người dân. Vì đâu?

Trước nhất, có thể nói rằng trong lát cắt về dân trí, dân sinh thì người dân Việt Nam chưa thật sự và chưa hoàn toàn hiểu biết về nhân quyền, dân chủ. Suốt mấy ngàn năm nô lệ giặc Tàu, rồi phong kiến, đến cộng sản độc đảng, độc tài, mối quan hệ căn bản giữa người dân và nhà nước vẫn là quan hệ một chiều: từ người dân u mê, sợ sệt trong nhà nước phong kiến, xem nhà vua như ông trời con, vua bảo chết phải chết, rồi sợ ngoại bang, sau này sợ công an, sợ chính quyền, chỉ được nói những gì chính quyền không cấm, làm những gì chính quyền không phạt, nghe những gì chính quyền cho nghe, đọc những gì chính quyền không cấm phát hành, viết những gì chính quyền không phạt tù… tất cả những điều đó đã làm cho nhuệ khí, tính tự chủ của con người bị triệt tiêu hoàn toàn. Dân chủ, nhân quyền trở thành những khái niệm xa xỉ. Cam chịu và chấp nhận tuân phục – đó là những thứ còn lại của một bộ phận lớn người dân Việt sau mấy ngàn năm lịch sử.

Về mặt nhà nước, sự yếu kém, mất tự chủ và lệ thuộc ngoại bang đã làm cho sinh quyển dân chủ bị phá vỡ và nhân quyền bị mất hẳn. Một nhà nước phụ thuộc, mất tự chủ sẽ chẳng mang lại một chính sách, quốc gia dân chủ được. Trong cuộc chiến tranh Nam Bắc trước 30 tháng Tư năm 1975, chính quyền cộng sản miền Bắc, để thực hiện thống nhất hai miền Nam Bắc thành một quốc gia cộng sản, đã chấp nhận một số điều kiện bắt buộc của cộng sản Trung Quốc và cộng sản Liên Xô để nhận về phần mình vũ khí, tiền tệ, lương thực, quân nhân, đánh Việt Nam Cộng hòa. Và để đạt được điều này, họ phải trả giá bằng sự lệ thuộc vào khối Cộng sản Quốc tế, trong đó, nổi trội vẫn là cộng sản Trung Quốc với các thỏa thuận về biên giới, hải đảo đổi lấy quân nhân, phương tiện chiến tranh…; cộng sản Liên Xô với khoản tiền nợ mua vũ khí khổng lồ… cùng những cam kết thành viên Cộng sản Quốc tế.

Chính sự lệ/phụ thuộc này đã làm cho nhà nước cộng sản Việt Nam không thể tạo ra được bầu không khí tự chủ, và theo cấp độ, tầng bậc từ cao đến thấp, từ kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng, người dân Việt Nam không thể nào có được nhân quyền – dân chủ. Nhân quyền và dân chủ chỉ sinh ra trong một đất nước có thể chế chính trị đa nguyên, có một nhà nước tự chủ, không phụ thuộc. Ở đây, chiều dài lịch sử đã vẽ ra một đất nước có hệ thống chính trị phụ thuộc mọi góc độ vào ngoại bang và kế đến, người dân trực tiếp lệ thuộc vào nhà nước, theo vòng xoay không có lối ra.

Trong bối cảnh như vậy, các nhà hoạt động nhân quyền–dân chủ vấp phải một lực cản rất lớn từ phía nhà nước đương quyền. Vì lẽ: hoặc là có nhân quyền–dân chủ thì nhà nước phải có sự thay đổi căn bản như bỏ độc tài, không thỏa hiệp với cộng sản Trung Quốc, xây dựng cơ chế đa nguyên… Mà điều này lại đe dọa đến quá trình tồn tại của họ.

Và chính những gì của lịch sử, địa trạch, thổ nhưỡng, địa lý, giáo dục, môi trường chính trị… trải dài trên đất nước đã làm thành một bức tường ngăn cản ý thức dân chủ, ý chí đấu tranh nhân quyền ở Việt Nam.


Những vấn đề gây nhiễu cho tiến trình đấu tranh nhân quyền–dân chủ

Phía chính quyền cộng sản Việt Nam: không chấp nhận, bắt bớ, hành hung, đe dọa, bạo lực, bỏ tù…

Phía đa số người dân Việt Nam: không có sự hiểu biết về nhân quyền–dân chủ, sinh ra e ngại trước những nhà đấu tranh và thậm chí một bộ phận lớn hiểu nhầm những nhà đấu tranh nhân quyền–dân chủ là kẻ phản động. Điều này dễ hiểu vì với tâm thức nông nghiệp đã ăn sâu, với tâm lý thủ phận, an thường và chịu đựng đã thành nếp, với sự thiếu hiểu biết và nhận chịu tuyên truyền hằng ngày của nhà nước suốt ba mươi mấy năm (phía Bắc thì bảy mươi mấy năm), vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã nghe tuyên truyền, thậm chí chịu tuyên truyền lúc còn trong trứng nước… Nên chi ý thức nhân quyền–dân chủ của đại bộ phận người Việt rất thấp. Chuyện đấu tranh là chuyện hi hữu, chuyện của một bộ phận may mắn được thụ đắc tư tưởng tiến bộ. Rất tiếc, bộ phận tiến bộ này còn chiếm tỉ lệ quá thấp ở Việt Nam!

Phía nội bộ của các tổ chức đấu tranh nhân quyền–dân chủ cũng có vấn đề không kém phần nan giải và trầm trọng. Sự hiểu nhầm khái niệm giữa đấu tranh và trả thù, giữa thương thuyết cải tổ nhằm mang lại tiến bộ và bạo lực hành động, bạo lực ngôn ngữ.

Vấn đề bạo lực hành động thì cụ thể, dễ phân định. Vấn đề bạo lực ngôn ngữ thì mơ hồ, ngấm ngầm nhưng đem lại hiệu quả xấu, hiểu nhầm rất lớn. Những bài viết có tính căng thẳng, mạ lỵ đối phương chỉ đủ khả năng xả e cho một bộ phận nhỏ mang tâm lý thù hận nhưng không mang lại hiệu ứng rộng lớn cho một cộng đồng (nếu không nói là làm cho cộng đồng e ngại, tránh xa những người liên quan đến bài viết và mối dây liên hệ giữa người cần hiểu biết về dân chủ với diễn đàn đăng bài viết có nguy cơ bị cắt đứt). Và bạo lực ngôn ngữ cũng được chia ra làm hai loại, một loại đánh vào cộng sản, một loại vừa đánh cộng sản vừa đánh “phe mình” (đọc bài “Suy xét câu chuyện Lý Tống và ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng” của Trần Kinh Kha, talawas 23/7/2010).

Viết những bài như vậy chẳng khác nào kiểu chơi nước đôi, hàm chứa mục đích khích bên này và dò bên kia. Bên nào mạnh cũng có cơ may cho người viết bằng một loại bài [sẽ] viết khác, nghiêng hẳn về bên mạnh một cách hùng hồn. Kiểu viết chực hờ và cơ hội này không phải ít trên các diễn đàn. Một kiểu tung hỏa mù tư tưởng, loại bài này rất nguy hiểm cho tiến trình dân chủ, nhưng hiệu ứng của nó thường phát tán ở số người ít hiểu biết, không có chính kiến và chưa tiến bộ. Và trong một chừng mực nào đó thì chính loại bài này là thứ xúc tác kích động bạo lực hạng nặng.

Và thêm một mối nguy khác là phần lớn người dân Việt Nam sống qua các cuộc chiến tranh, nạn đói, phân ly… lòng thù hận của họ đã ăn sâu vào máu thịt, khó mà hóa giải. Khi có đấu tranh nhân quyền–dân chủ thì bị ngay lòng thù hận chi phối, dễ dẫn đến bạo động, bạo lực, và đối phương sẽ dựa vào đó mà thanh trừ, triệt tiêu.

Thay lời kết

Có thể nói câu chuyện đấu tranh nhân quyền–dân chủ của người Việt là một câu chuyện rất dài và phức tạp có nguyên nhân từ nhiều phía. Nhưng căn cơ của nó vẫn nằm ở chỗ cần có độ bền bỉ của nhà dân chủ, tính kiên trì của tập thể và sự đánh thức ý thức nhân quyền–dân chủ trong mỗi cá thể. Muốn đạt được, chí ít phải:

Tiếp tục phát huy những giá trị đấu tranh bất bạo động, lấy đấu tranh bất bạo động làm nền tảng (trong cả hành động và ngôn ngữ) mà từ trước đến giờ các nhà hoạt động dân chủ đã đạt được. Mỗi nhà dân chủ phải là một mẫu mực về giá trị nhân quyền–dân chủ, lấy tình yêu thương đồng loại làm kim chỉ nam, lấy tri thức khoa học và nhân đạo làm nền móng, lấy sự tiến bộ trong xây dựng hiến pháp, pháp luật làm tiến đề cho công cuộc lâu dài. Tuyệt đối tránh xa hành vi quá khích, bạo động, bạo lực.

Vấn đề nhân quyền–dân chủ nên được hiểu rộng ra cấp độ lãnh thổ, lãnh hải quốc gia, sự toàn vẹn của lãnh thổ, lãnh hải và trách nhiệm của những người, tổ chức, đảng phái có liên quan.

Xét trong cục diện phát triển chung của thế giới thì chủ nghĩa cộng sản chỉ còn là một cái xác không hồn, không sớm thì muộn cũng phải tự thay máu hoặc rơi vào luật đào thải nội tại. Chính vì vậy, vấn đề đặt lên hàng đầu là kiến tạo những mô hình dân chủ, đảm bảo nhân quyền cho con người, một mô hình đủ thuyết phục và hấp dẫn để hỗ lực người dân Việt bứt thoát khỏi những nếp nghĩ, quan niệm và sự sợ hãi đã ăn sâu trong máu thịt bởi sự tuyên truyền trước đây.

Mỗi nhà dân chủ phải biết mình đang ở nhóm nào trong ba nhóm trên đây để có định hướng, chọn lựa thái độ và đường hướng tốt nhất.

Mỗi nhà dân chủ phải nắm rõ luật, công ước quốc tế về nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận…

Nhân quyền–dân chủ cho Việt Nam sẽ đi đến đâu, phát triển như thế nào không dựa vào những hành động và ý kiến đơn lẻ của những cá thể. Đó là công cuộc chung có trả giá, có hy sinh của một dân tộc, một quốc gia – Việt Nam.


Liêu Thái

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh


24 July 2010

Tội của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đối Với Dân Tộc Việt


Tất cả các việc làm nói trên của Đảng CSVN không ngoài mục đích bần cùng hóa người dân miền Nam để dễ bề cai trị họ. Vì không chịu nổi chính sách cai trị hà khắc này, dân miền Nam đã phải liều thân lên thuyền vượt biển, vượt biên và hàng trăm ngàn người phải chịu mất mạng ngoài biển cả hay trong rừng sâu.

Để chối bỏ các tội ác tày trời do chúng gây ra, CSVN đã tìm cách phá bỏ các dấu tích tội ác của chúng ở trong cũng như ngoài nước. Tại Huế, chúng đã cho phá bỏ các bia mộ tập thể chôn các nạn nhân của cuộc thảm sát Tết Mậu Thân. Tại Nam Dương và Mã Lai, nơi có các bia tưởng niệm nạn nhân chết trên đường vượt biển tìm tự do, CSVN đã áp lực các chính phủ này phải cho đập phá các bia tường niệm, gây sự công phẫn cho các gia đình nạn nhân và các cộng đồng người Việt tỵ nạn CS khắp nơi trên thế giới. Chúng tưởng thế là xóa sạch tội ác đã phạm phải mà không biết rằng “ trăm năm bia đá có thể mòn, nhưng ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Mai này khi chế độ Cộng Sản không còn nữa, các bia tưởng niệm này sẽ được xây lại để làm bằng chứng cho các tội ác to lớn của Cộng Sản.

Nguyễn Quốc Đống

Tội của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đối Với Dân Tộc Việt


Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tự cho là mình có công lớn đối với dân tộc Việt: nào là thực hiện 3 dòng thác cách mạng, đánh đuổi thực dân, đế quốc, giải phóng người dân khỏi phong kiến, thực dân bóc lột, và cuối cùng là có công thống nhất đất nước để xây dựng 1 nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc. Có kẻ, khi luận công, tội của Đảng này, mù quáng còn dám nói Hồ Chí Minh tội chỉ có 1 mà công tới 9!! Chúng ta thử giở lại những trang sử cận đại để tìm biết sự thật: Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) đã gây ra những tội gì cho đất nước và dân tộc Việt Nam?

Hậu bán thế kỷ 20, vào những năm 40, đất nước ta vẫn còn chìm đắm trong thống khổ dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Thế giới đang ở vào giai đoạn chót của thế chiến thứ 2 (1939-1945). Ngày 9 tháng 3, 1945, quân đội Nhật đảo chánh Pháp giành quyền cai trị Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam Bốt). Nhật còn táo bạo tấn công căn cứ hải quân của Mỹ ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) khiến cả chục ngàn quân Mỹ bị thương vong. Đầu tháng 8, 1945, Hoa Kỳ thả 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Nhật là Hiroshima và Nagasaki khiến ngày 15 tháng 8, phát xít Nhật phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và thế chiến thứ 2 chấm dứt. Quân Nhật rút hết vào các trại lính của họ, chờ quân Đồng Minh đến giải giới nên họ không cần quan tâm đến các biến chuyển chính trị bên ngoài doanh trại của họ. Tại Việt Nam bấy giờ, tuy trên có Vua Bảo Đại trị vì, dưới vẫn còn chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim được thành lập sau ngày đảo chính của Nhật nhưng chính phủ tân lập này chưa được củng cố : ngân khố trống rỗng, quân đội không có, nhân sự thiếu thốn… Khi tình thế mới xảy ra, chính phủ quốc gia thực sự lúng túng, không biết phải đối phó thế nào. Pháp lợi dụng sự chiến thắng của quân Đồng Minh nên lại muốn trở lại Việt Nam. Thủy sư Đô Đốc Thierry D’Argenlieu được chỉ định làm Cao Ủy Đông Dương và tướng Leclerc được bổ làm Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh Pháp để “tái chiếm Đông Dương”.

Ngày 19 tháng 8, 1945 các đảng phái quốc gia tổ chức 1 cuộc biểu tình tuần hành tại Hà Nội với thành phần chính là công chức, sinh viên, học sinh để tuyên bố Việt Nam độc lập vì cả Pháp lẫn Nhật đều đã bị lật đổ. Khi dân chúng Hà Nội tập trung đông đảo tại nhà hát lớn Hà Nội, các cán bộ Việt Minh (tức Cộng Sản Việt Nam) nhảy lên khán đài cướp máy vi âm, chiếm khán đài, rút cờ đỏ sao vàng (cờ của Đảng Cộng Sản Việt Nam) giấu sẵn trong người ra phất lên và hô to: “Việt Nam Độc Lập muôn năm”. Dân chúng không hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, nhưng thấy đất nước bỗng dưng trở thành độc lập nên phấn khởi cũng hô theo”Việt Nam Độc Lập muôn năm”, và theo sự điều động của các cán bộ Việt Minh đi tuần hành thị uy trên các đường phố, xuống chiếm dinh Toàn Quyền cũ của Pháp. Các đảng phái quốc gia bấy giờ vì kém tổ chức, không đủ cán bộ, và thấy khó đảo ngược được tình thế đã rút lui dù tại cuộc biểu tình hôm ấy chỉ có các cán bộ Việt Minh thừa hành chứ chưa có bộ mặt lãnh đạo nào xuất hiện cả. Sau này Việt Minh đã trắng trợn gọi cuộc biểu tình này là “cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân”, là “cuộc cách mạng mùa thu” do chúng chủ động tổ chức và có công đầu! Ngày 25 tháng 8, 1945 dưới áp lực của Việt Minh, vua Bảo Đại phải thoái vị.

Ngày 2 tháng 9, 1945, lần đầu tiên Hồ Chí Minh xuất hiện, ra mắt dân chúng tại quảng trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Năm 1946, Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chính Phủ Liên Hiệp. Họ Hồ mời Cựu Hoàng Bảo Đại ra Hà Nội làm Cố Vấn Tối Cao cho chính phủ liên hiệp nhưng thực sự chỉ là để giam lỏng Cựu Hoàng. Hồ Chí Minh cũng khôn ngoan mời các đảng phái quốc gia tham gia Chính Phủ Liên Hiệp. Các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Đại Việt Cách Mạng, Đảng Duy Dân … đều cử người tham gia, hy vọng góp phần vào việc xây dựng lại đất nước sau bao năm dài thống khổ dưới ách thống trị của ngoại bang. Chúng ta thấy sự có mặt của các vị như: Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam…. Nhưng sau khi Cộng Sản Việt Nam củng cố được lực lượng riêng thì Hồ Chí Minh giải tán chính phủ liên hiệp để nắm quyền 1 mình. Đảng CSVN bắt đầu tiêu diệt các đảng phái quốc gia và những người không theo Cộng Sản. Hận thù Quốc-Cộng bắt đầu từ đây.

Nếu HCM là người yêu nước thật sư, biết nghĩ đến quyền lợi tối thượng của đất nước và dân tộc , ông ta đã coi trọng việc đoàn kết dân tộc và đã không giải tán chính phủ liên hiệp, tạo cơ hội để các thành phần yêu nước được tham dự vào việc chống Pháp giành độc lập khi người Pháp manh tâm trở lại Đông Dương sau ngày Nhật đầu hàng. Nếu được như vậy, sau khi Pháp bại trận tại Đông Dương chính phủ liên hiệp hẳn vẫn còn tồn tại, Việt Nam có thể tránh được thảm trạng chia đôi đất nước vào năm 1954 và cuộc chiến tranh tại miền Nam Việt Nam đã không xảy ra!

Lịch sử cho thấy Cộng Sản Việt Nam đã đồng ý với việc chia đôi đất nước. Chính phủ Việt Nam do quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo đã quyết liệt phản đối và không ký vào hiệp định này. Văn bản quốc tế này coi như chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam kéo dài trong 8 năm (1946-1954). Theo Hiệp Định Geneve, vĩ tuyến thứ 17 và dòng sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị là lằn ranh phân chia nước Việt Nam thành 2 miền với 2 chế độ khác nhau. Miền Bắc do Hồ Chí Minh lãnh đạo theo chủ nghĩa Cộng Sản. Miền Nam theo chế độ Cộng Hòa. Sau khi nước Việt Nam bị chia đôi, 1 triệu đồng bào miền Bắc đã bỏ đất Bắc di cư vào miền Nam tìm tự do. Tại miền Nam, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo sau khi hoàn tất việc định cư cho các đồng bào miền Bắc di cư đã bắt tay vào việc xây dựng 1 chế độ tự do, dân chủ cho miền Nam.

Có người nói rằng vì chính phủ của Tổng Thống Diệm không chịu tổ chức tổng tuyển cử 2 năm sau hiệp định Geneve nên CSVN mới phải tiến hành chiến tranh thống nhất đất nước. Kẻ lại cho rằng vì Mỹ đổ quân vào Nam Việt Nam nên Việt Cộng mới phải tung quân vào Nam để “giải phóng miền Nam khỏi bị Mỹ Ngụy kềm kẹp”! Nếu chúng ta biết được con người thật của Hồ Chí Minh chỉ là tay sai của Quốc Tế Cộng Sản và Đảng Cộng Sản do ông ta xây dựng thì chúng ta hiểu được họ sẽ làm gì trước tiên là tại miền Bắc và sau đó tại miền Nam Việt Nam. HCM, lãnh tụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, được Đảng Cộng Sản Nga đào tạo và huấn luyện tại Liên Sô. Họ Hồ cũng là tay sai đắc lực của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Họ Hồ nói là theo chủ nghĩa Cộng Sản để “tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc” nhưng đây chỉ là những chiêu bài để đánh lừa quần chúng vì thực tế đã chứng minh sau khi chủ nghĩa Cộng Sản được thực hiện rồi thì đất nước vẫn không có độc lập, người dân vẫn không có tự do mà còn triền miên trong cảnh đói nghèo, lạc hậu so với các nước lân bang không Cộng Sản. Sự xuất hiện của HCM và việc ông ta chọn con đường xã hội chủ nghĩa để xây dựng đất nước là 1 đại bất hạnh cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Lịch sử nước nhà đã ghi những trang sử đen tối chưa từng có trong quá trình dựng nước của dân tộc. Sau cùng thì chúng ta cũng thấy được là dù Mỹ có không đổ quân vào miền Nam thì Cộng Sản vẫn tiến hành chiến tranh xâm lăng miền Nam vì cuộc chiến tranh này đã nằm sẵn trong lộ trình xích hóa Đông Dương của chúng. Theo hồi ký của Lê Duẩn, tổng bí thư Đảng CSVN cho biết năm 1954, Lê Duẩn đang hoạt động tại miền Nam đã xuống tàu của Ba Lan để tập kết ra Bắc nhưng ông này chờ đến đêm tối đã rời tàu Ba Lan, ở lại miền Nam theo chỉ thị của đảng CS để chỉ đạo và tổ chức các cơ sở bí mật của Cộng Sản tại miền Nam.

Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử để xem Cộng sản Việt Nam đã phạm những tội gì đối với đất nước và dân tộc kể từ năm 1954, sau khi đất nước bị chia đôi. Tại miền Bắc, họ phát động cuộc cải cách ruộng đất tiêu diệt thành phần “địa chủ”. Hàng trăm ngàn nông dân bị gán cho danh từ”địa chủ bóc lột” và “cường hào ác bá” rồi bị đem ra đấu tố ở các tòa án nhân dân, bị sỉ nhục, kết án tử hình và bị bắn tại chỗ. Đây là tội ác “diệt chủng, chống nhân loại” đầu tiên mà Cộng Sản đã thực hiện tại miền Bắc.

Năm 1956 tại Hà Nội, Đảng Cộng Sản Việt Nam triệu tập 1 hội nghị cao cấp dưới sự chủ tọa của Hồ Chí Minh. Hội Nghị này đã ban hành Nghị Quyết 15 quyết định tiến hành xâm lăng miền Nam bằng võ lực. Đảng Cộng Sản Việt Nam quyết chiếm miền Nam bằng bất cứ giá nào. Trước ngày tập kết ra miền Bắc, CSVN đã tổ chức những đám cưới tập thể cho cán bộ và bộ đội. Những người vợ này không theo chồng ra Bắc mà ở lại miền Nam để làm cơ sở cho các hoạt động của Cộng Sản sau này.

Sau khi Hiệp Định Geneve được ký vào năm 1954, dân chúng miền Nam chỉ được sống trong hòa bình được vài năm. Năm 1957 tiếng súng đã bắt đầu nổ tại các làng quê ở các vùng xa đô thị. Cường độ chiến tranh gia tăng theo thời gian. Nhiều sư đoàn quân chính quy CS miền Bắc xâm nhập miền Nam qua đường mòn”Hồ Chí Minh”. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không có chủ trương gây hấn với miền Bắc và cho dù quân đội Mỹ không có mặt ở miền Nam thì cuộc chiến tranh lần thứ 2 tại miền Nam cũng không thể tránh được. Quân dân miền Nam chỉ mong muốn sống trong hòa bình và tự do để kiến thiết đất nước nhưng vẫn phải chịu đựng 1 cuộc chiến tranh lâu dài và đẫm máu.Tội ác lớn nhất của CSVN chính là tội gây ra cuộc chiến tranh này. Cuộc chiến này đã làm chết hơn 3 triệu người ở cả 2 miền Nam Bắc và chỉ chấm dứt vào ngày 30 tháng 4, 1975 sau khi quân xâm lược miền Bắc chiếm đươc thủ đô Saigon.

Lịch sử chứng minh CSVN đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng cho cuộc chiến xâm lăng miền Nam để hoàn tất cuộc cách mạng vô sản tại vùng Đông Nam Á, mở đầu với việc nhuộm đỏ toàn nước Việt Nam. Việc chiếm miền Nam để đặt vùng đất tự do này dưới sự cai trị của CS đã nằm trong lộ trình định sẵn của CS.

Năm 1958, để lấy lòng Trung Cộng, bảo đảm cường quốc này sẽ giúp CSVN tiến hành cuộc xâm lăng miền Nam VN, Phạm Văn Đồng với tư cách là thủ tướng miền Bắc đã ký công hàm gửi thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, xác nhận hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Hai đảo này từ ngàn xưa đã được chứng minh là thuộc về Việt Nam và vào thời điểm Phạm Văn Đồng ký công hàm gửi thủ tướng Trung Cộng vẫn thuộc quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Nam VN. Đây là bằng chứng đầu tiên về tội bán nước của CSVN.

Năm 1959, CSVN đã cho mở 1 con đường mới xuyên qua Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh) để vận chuyển bộ đội, vũ khí, đạn dược từ Bắc vào chiến trường miền Nam. Chính con đường này là huyết mạch nuôi sống đạo quân xâm lăng và giúp chúng hủy hoại chế độ tự do, dân chủ của 1 nửa nước VN, gây bao tang tóc đau thương cho dân tộc Việt.

Năm 1960, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền Nam và Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập. CSVN đã tuyên truyền rằng đây là các tổ chức của dân chúng miền Nam được lập ra để chống chính phủ cộng hòa bù nhìn của Mỹ tại miền Nam. Tại Mỹ, các phong trào phản chiến thân Cộng đã vin vào sự kiện này để đòi hỏi chính phủ Mỹ thôi hỗ trợ cho chính phủ VNCH, rút quân đội Mỹ về nước, trả lại “quyền tự quyết” cho dân chúng VN. Tất cả đều đã mắc mưu sâu độc của CS Bắc Việt và Cộng Sản Quốc Tế. Sau khi miền Nam rơi vào tay quân CS xâm lăng, tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch và Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN do Huỳnh Tấn Phát làm thủ tướng đã bị giải tán vào năm 1976. Miền Nam hoàn toàn do các lãnh đạo CS miền Bắc cai trị.

Sau năm 1975, CSVN với bản chất lừa bịp và gian dối, đã trơ trẽn khoe là có công “đem lại hòa bình, thống nhất đất nước, giải phóng nhân dân khỏi sự kềm kẹp và thống trị của Mỹ- Ngụy” ….Sự thật mọi người đều biết là:

- Cộng Sản đi đến đâu người dân bỏ trốn đến đó.

- Cộng Sản chiếm được miền Bắc thì 1 triệu dân miền Bắc bỏ chạy vào miền Nam tìm tự do.

- Cộng Sản chiếm được miền Nam thì hơn 2 triệu đồng bào miền Nam bỏ chạy trốn sang các nước thuộc thế giới tự do.

- Các cuộc đấu tố trong Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc là để giết dân và cướp đất.

- Vụï án Nhân Văn-Giai Phẩm ở miền Bắc năm 1956 là để dập tắt sự đòi hỏi tự do sáng tác của văn, nghệ sĩ miền Bắc.

- CS thảm sát 5,000 thường dân vô tội tại Huế trong cuộc tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968.

- Quân Cộng Sản xả súng bắn vào đoàn người chạy loạn trên “đại lộ kinh hoàng”, con đường từ Quảng Trị vào Huế năm 1972.

- Cộng Sản pháo kích điên cuồng vào các khu dân cư, vào trường học khiến trẻ em vô tội phải chết oan trong suốt cuộc chiến Việt Nam.

- CS thảm sát người dân miền Nam vô tội trên liên tỉnh lộ 7 từ Pleiku, Kontum, Phú Bổn về Tuy Hòa những tháng đầu năm 1975.

- Sau khi chiếm được miền Nam, Cộng Sản đã áp dụng 1 chính sách trả thù quân và dân miền Nam: bắt quân, cán, chính VNCH đi tù nhiều năm mà không xét xử; bắt thân nhân những người này đi các vùng kinh tế mới để chiếm nhà; đổi tiền và đánh tư sản để cướp đoạt tài sản của dân.


Tất cả các việc làm nói trên của Đảng CSVN không ngoài mục đích bần cùng hóa người dân miền Nam để dễ bề cai trị họ. Vì không chịu nổi chính sách cai trị hà khắc này, dân miền Nam đã phải liều thân lên thuyền vượt biển, vượt biên và hàng trăm ngàn người phải chịu mất mạng ngoài biển cả hay trong rừng sâu.

Để chối bỏ các tội ác tày trời do chúng gây ra, CSVN đã tìm cách phá bỏ các dấu tích tội ác của chúng ở trong cũng như ngoài nước. Tại Huế, chúng đã cho phá bỏ các bia mộ tập thể chôn các nạn nhân của cuộc thảm sát Tết Mậu Thân. Tại Nam Dương và Mã Lai, nơi có các bia tưởng niệm nạn nhân chết trên đường vượt biển tìm tự do, CSVN đã áp lực các chính phủ này phải cho đập phá các bia tường niệm, gây sự công phẫn cho các gia đình nạn nhân và các cộng đồng người Việt tỵ nạn CS khắp nơi trên thế giới. Chúng tưởng thế là xóa sạch tội ác đã phạm phải mà không biết rằng “ trăm năm bia đá có thể mòn, nhưng ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Mai này khi chế độ Cộng Sản không còn nữa, các bia tưởng niệm này sẽ được xây lại để làm bằng chứng cho các tội ác to lớn của Cộng Sản.

Ngày 18 tháng 3, 2006 tại tỉnh Bình Dương, một ngôi chùa lớn mang tên Đại Nam Quốc Tự đã được khánh thành. Kinh phí xây chùa lên tới cả chục triệu đô la. Trong chùa, ngoài 2 bệ thờ các tượng Phật, tượng Hồ Chí Minh mặc áo đại cán 4 túi sơn son thếp vàng cũng được đặt ở 1 bệ thờ tại Phật đài trong chánh điện, bên cạnh có lá cờ đỏ sao vàng của Đảng CSVN. HCM lúc sinh thời là 1 người Cộng Sản vô thần, trước khi chết còn di chúc lại sẽ đi gặp các ông tổ Cộng Sản là Karl Marx và Lenin, có bao giờ đề cập đến niềm tin tôn giáo nào đâu. Nay giới hữu trách CS lại cho đặt tượng HCM trong chùa để cho tín đồ Phật giáo phải lễ lạy, khách mọi nơi phải chiêm bái Hồ như 1 vị Phật quả là một sự xúc phạm nặng nề đến Phật giáo, 1 tôn giáo lớn của người dân Việt. Ý đồ của Cộng Sản là muốn bôi xóa tội ác của HCM, khiến mọi người tưởng rằng HCM là người thánh thiện có công lớn với dân tộc nên đã được nhân dân sùng bái thờ tại “Đại Nam Quốc Tự”(chùa lớn của cả nước Việt Nam). Đây là một tội ác lớn của CS đối với tôn giáo tại Việt Nam.

Cộng Sản Việt Nam giỏi lừa bịp và dùng nhiều thủ đoạn nên đã đánh lừa được nhiều người. Nhưng với thời gian sự thật đã được phơi bày. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, người dân miền Bắc lần đầu tiên được tiếp cận với đời sống của người dân miền Nam và họ đã từ từ thấy được sự thật đã bị giới lãnh đạo CS che giấu nhiều năm qua. Nhà văn Dương Thu Hương vào ngày 30 tháng 4, 1975, khi theo 1 đơn vị bộ đội vào thành phố Saigon, bà được thấy đủ loại sách, báo, truyện, thơ, văn, nhạc được bày bán tại thủ đô Saigon, cả sách báo bằng ngoại ngữ cũng được bày bán tự do ở các tiệm sách. Hàng hóa thì có đủ loại, muốn mua gì cũng có, muốn mua bao nhiêu cũng được. Dân muốn nghe chương trình phát thanh nào cũng được: đài VOA, đài BBC, đài Pháp, đài Úc, đài Nhật…Lần đầu tiên được chứng kiến sự thật tại miền đất vừa được đoàn quân của bà “giải phóng”, nghĩ lại đến quê hương miền Bắc của bà, nơi người dân chỉ có thể mua radio 1 băng tần, chỉ có thể nghe được 2 đài phát thanh duy nhất là đài Tiếng Nói Việt Nam và đài phát thanh Quân Đội Nhân Dân, bà đã ngồi xuống bên vệ đường bật khóc và than rằng:“Kẻ man rợ đã đi giải phóng người văn minh!”

Chỉ 1 năm sau ngày miền Nam VN rơi vào tay quân xâm lăng miền Bắc, năm 1976, CSVN cho thống nhất 2 miền Nam và Bắc, thành lập 1 nước mới mang tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cả nước được đặt dưới sự cai trị của Đảng CSVN, theo chế độ xã hội chủ nghĩa (đối lập với chế độ tư bản của Âu Mỹ). CSVN dùng những mỹ từ như: “độc lập-tự do-hạnh phúc” để mô tả chế độ mới này. Nhưng đất nước có thực sự được độc lập và người dân có được tự do-hạnh phúc hay không?

Những năm đầu sau ngày 2 miền được sáp nhập, CSVN ngả hẳn theo phe Liên Sô. Họ ký 1 hiệp ước Hợp Tác Toàn Diện với Liên Sô có hiệu lực trong 25 năm. CSVN lại cho quân xâm lược Cam Bốt năm 1978 khiến Trung Cộng càng thêm tức giận. Kết quả năm 1979, Trung Cộng đã bất ngờ cho quân tấn công vào 6 tỉnh ở biên giới miền Bắc giết hại dân lành, nói là để “dạy cho đàn em là CSVN 1 bài học”. CSVN có duy trì được nền độc lập của mình không?

Đầu thập niên 90, Liên Bang Sô Viết sụp đổ. CSVN mất chỗ dựa vào Nga, lại bị Mỹ tiếp tục cấm vận trong nhiều năm, chúng đành phải ngả hẳn vào Tàu Cộng để sống còn. Từ đây nước nhà đã bước hẳn sang 1 thời kỳ vô cùng đen tối vì chúng ta đều biết Trung Cộng với mộng bá quyền chắc chắn sẽ biến VN nhỏ bé thành chư hầu của chúng. Chiêu bài “độc lập” của CSVN chẳng còn lừa bịp được ai nữa, kể cả dân chúng trong nước. Hành động bán nước của chúng ngày càng lộ rõ vì đây là con đường duy nhất chúng phải đi để cứu Đảng. Năm 1999, chúng ký 2 hiệp ước về biên giới; chúng ta mất thác Bản Giốc và Ải Nam Quan. Năm 2000, hiệp ước vể Biển Đông được ký; chúng ta mất nhiều vùng biển. Năm 2009, bất chấp sự phản đối của dân chúng, CSVN còn cho Tàu Cộng vào khai thác bô-xít ở vùng đất chiến lược Tây Nguyên, Nam VN. Chúng còn cho Đài Loan và Tàu Cộng thuê đất trồng rừng dài hạn (50 năm). Đất nước có còn độc lập hay đang rơi vào tay ngoại bang? Mọi người đã thấy rõ Trung Cộng đang là chủ nhân ông thực sự của VN còn bọn lãnh đạo CSVN đã hiện nguyên hình là 1 lũ “bán nước, cầu vinh”.

Giờ đây thì mọi sự dối trá lừa bịp đã không còn tiếp tục được nữa. Người dân đã thấy được sự thật. Các trò khủng bố, đàn áp cũng không làm họ sợ hãi như xưa nữa. Họ ý thức được họ bị bịt mắt, che tai trong nhiều thập niên qua . Họ ý thức được Đảng Cộng Sản chỉ nhân danh họ để thi hành 1 chính sách cai trị hà khắc, tước đoạt mọi nhân quyền và dân quyền. Rốt cuộc, quảng đại nhân dân bị biến thành nô lệ và chỉ một thiểu số vài triệu đảng viên chịu khom lưng làm tay sai cho Đảng là được Đảng ban phát ân huệ. Mặt khác, muốn sống còn, Cộng Sản Việt Nam cũng đã phải muối mặt quay sang cầu thân với cựu thù của mình là Hoa Kỳ, một nước mà ngày xưa chúng đã gọi là”con đỉa 2 vòi, tên sen đầm quốc tế, là kẻ thù của nhân dân các nước yêu chuộng tự do, là thực dân mới….”

Trong nước hiện nay cũng đang có những thay đổi quan trọng. Từ những sự chống đối lẻ tẻ của người dân các vùng nông thôn đòi đất, đòi nhà chúng ta thấy các tu sĩ đã can đảm đứng lên đòi tự do tôn giáo, các công nhân đòi quyền lợi lao động và nay là sự liên kết của các cá nhân và các đoàn thể thành các tổ chức tranh đấu có quy mô lớn hơn. Sự thành lập của khối 8406 vào ngày 8 tháng 4 năm 2006 nhằm mục đích tranh đấu giành tự do, dân chủ cho Việt Nam là một sự kiện quan trọng sau 31 năm CS chiếm được miền Nam. Các thành viên của khối này kêu gọi tẩy chay bầu cử vào Quốc Hội bù nhìn của CSVN vào năm 2007, đòi hỏi nhà cầm quyền phải trả lại các quyền tự do cho người dân… Bản chất con người thường là hay cầu an, ngại khó, ngại khổ. Vậy mà một số thường dân nay đã dũng cảm đứng lên tranh đấu cho những quyền cơ bản của người dân để họ có thể sống 1 cuộc sống có phẩm giá của con người. Thành viên của Khối 8406 này là những người yêu nước thật sự, ý thức được nguy cơ phá sản của đất nước nếu cứ cam chịu sự cai trị của Đảng CSVN. Họ là những người can đảm, trung thực không chịu khuất phục trước bạo quyền. Đất nước vẫn còn có cơ may tồn tại và hồi sinh nhờ sự thức tỉnh và can trường của những công dân có lương tâm nói trên.

Nhiệm vụ của chúng ta, các tổ chức cộng đồng của người Việt tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại là phải tích cực hỗ trợ cho các cá nhân và tổ chức trong nước đang đứng trước đầu sóng ngọn gió đương đầu với bạo quyền Cộng Sản. Chúng ta có cơ may thành công hay không? Nhìn vào hiện tình đất nước, chúng ta ghi nhận những điểm sau đây:

1- Phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ hiện nay ở trong nước đã gây được sự chú ý của các tổ chức nhân quyền trên thế giới và của các nhà lập pháp của các quốc hội dân chủ tại Mỹ và Âu châu. Nhiều người công khai bày tỏ sự hỗ trợ của họ đối với những nhà tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam. Những người tranh đấu cho dân chủ nàyï được gọi là những người yêu nước. Họ được sự hỗ trợ tinh thần quý báu của các tổ chức quốc tế nên sự tranh đấu của họ không đơn độc, lẻ loi như xưa. CSVN không dễ gì trấn áp họ như trước kia.

2- Các sự đàn áp thô bạo của CSVN đối với những người tranh đấu cho dân chủ, tự do đã được loan đi đầy đủ khắp thế giới nhờ mạng lưới thông tin điện tử toàn cầu. Đây là một vũ khí lợi hại của các phong trào tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam. Dù CSVN lập các rào cản để ngăn chận các tin tức bất lợi cho chúng, các tin tức này vẫn lọt hàng rào cản và đến được thế giới tự do.

3- CSVN đã ký xin gia nhập hầu hết các tổ chức của Liên Hiệp Quốc, kể cả tổ chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO) nên họ không thể chỉ dùng luật rừng để khống chế người dân như trong 60 năm qua.

4- 35 năm về trước khi chưa chiếm được miền Nam, các cán bộ CS đều là những người vô sản, nghèo túng. 35 năm sau, cũng chính những cán bộ CS này nhờ tham nhũng của công, bóc lột dân lao động hầu hết các cán bộ CS trong bộ máy cầm quyền đều có của ăn của để, có tiền cho con du học ở các nước tiên tiến tư bản như Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Nhật….Các lãnh đạo chóp bu của Đảng CSVN nay đã trở thành các tư bản đỏ có tài sản lên đến hàng trăm triệu hoặc hàng tỷ đô la.

5- Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng, đã gửi các con du học ở Mỹ, thậm chí có 1 con kết hôn với một người Mỹ gốc Việt nữa! Thủ tướng 1 nước mà không còn tin tưởng nổi nền giáo dục do chính mình xây dựng, phải đem con cho đi du học ở một nước mình từng kết án là “thực dân, đế quốc” là “kẻ thù của nhân dân ta“ thì thật là đáng xấu hổ, tủi nhục cho đất nước. Một nền giáo dục đào tạo ra những học sinh lớp 6 không làm nổi 4 phép tính đơn giản, 89% sinh viên của 12 trường đại học miền Bắc thú nhận đã thi cử gian lận!

6- Giáo dục thì tệ hại như vậy. Đạo đức trong xã hội thì suy đồi không sao chấn chỉnh nổi. Các tệ nạn tham nhũng, ma túy, mãi dâm tràn lan.

7- 35 năm trước đây tại miền Nam Việt Nam, dù tài nguyên đất nước hạn chế, dù bị Cộng Sản đánh phá mọi mặt, người dân miền Nam đã từng được hưởng 1 chế độ tự do, dân chủ với mọi quyền tự do : đi lại, cư trúù, lập hội, báo chí, ứng cử và bầu cử… 35 năm sau, đất nước không còn chiến tranh. CSVN được hưởng nhiều thuận lợi: tài nguyên dồi dào của đất nước quy về một mối, thế giới tư bản cho mượn vốn đầu tư với lãi xuất nhẹ, đồng bào nước ngoài hàng năm gửi về VN hàng tỷ đô la… mà chỉ có được một số công trình xây dựng ở các đô thị, các cơ quan của Đảng và nhà nước, các khách sạn, nhà hàng, tụ điểm ăn chơi là to đẹp. Đời sống của người dân thường vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

Không ai phủ nhận CSVN hiện nay đang nắm trọn quyền hành, tiền bạc dồi dào, phương tiện dư thừa, được sự hỗ trợ tận tình của quốc tế kể cả Mỹ… Nhưng hiện nay CSVN đã làm mất lòng tin của nhân dân. Nhân dân không còn tin vào Đảng nữa. Từ trước đến nay CSVN thành công được là nhờ vào sức mạnh của nhân dân. Ngày nay nếu họ không còn được nhân dân ủng hộ nữa thì trong tương lai Đảng CSVN tất sẽ bị đào thải vì sức mạnh của nhân dân là vô địch! Đây là bước ngoặt của lịch sử. Chủ nghĩa Cộng Sản sống còn tại Nga Sô 70 năm bỗng chốc còn tan thành tro bụi. Đông Âu đã nhất loạt từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản để trả lại tự do cho người dân. Hai vợ chồng nhà độc tài Romania là Ceausescu và Elena sau khi cầm quyền 30 năm cũng đã bị lật đổ và ngày nay Romania đang là 1 nước dân chủ. Chế độ độc tài của Tổng thống Soharto tại Nam Dương sau 32 năm cũng bị nhân dân lật đổ. Chế độ độc tài của Saddam Hussein tại Iraq sau 30 năm cũng phải chấm dứt.

Những sự kiện diễn ra tại quê nhà những năm gần đây cho thấy Việt Nam đang ở trong tình trạng rất nguy kịch. Nguy cơ mất nước là 1 nguy cơ có thật. Việt Nam không còn cơ may nào thoát khỏi sự kiềm chế của Trung Cộng và chắc chắn đã trở thành 1 chư hầu của chúng. Những người Việt yêu nước , thương nòi ở trong nước cũng như tại hải ngoại phải làm gì? Trước hết chúng ta cần ý thức những điều quan trọng sau đây:

- Chỉ có người Việt Nam không CS mới thực sự yêu nước Việt và có khả năng bảo vệ đất nước chống khỏi sự thống trị của ngoại bang. CSVN miệng nói là “chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập cho nước, cho dân” nhưng chúng không có khả năng chống ngoại xâm vì làm như vậy chúng sẽ không bảo vệ được quyền lợi của Đảng CS và quyền lợi của các đảng viên CS, của giai cấp lãnh đạo CS nhiều năm nắm quyền sinh sát đối với người dân.

- Giới trẻ (thanh niên, sinh viên, học sinh) là thành phần chính phải có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng ngọn lửa tranh đấu cho tương lai của đất nước, cho 1 VN độc lập, tự do, hạnh phúc. Từ ngàn xưa, thanh niên vẫn được coi là rường cột của nước nhà.


Nếu chúng ta tuyệt đối tin vào chính nghĩa quốc gia, tin rằng chủ nghĩa dân tộc nhân bản sẽ thắng chủ nghĩa CS độc tài phi nhân, và 1 lòng đoàn kết với những thành phần người Việt chân chính, chúng ta sẽ thắng trong cuộc tranh đấu chống chế độ CS toàn trị, sẽ bảo vệ được đất nước đang bị Trung Cộng bá quyền thống trị và sẽ thực hiện được giấc mơ “đem lại hạnh phúc” cho người dân Việt nhiều năm dài phải sống trong chiến tranh tàn khốc, bị thực dân, đế quốc đàn áp bóc lột, bị CS lừa dối, nô lệ hóa… Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng sức mạnh đoàn kết của toàn dân là sức mạnh vô địch để chống ngoại xâm và bảo vệ nền độc lập của tổ quốc. Việt Nam bị nước Tàu khổng lồ đô hộ trong 1,000 năm; bị thực dân Pháp tham lam đô hộ trong 100 năm nhưng cuối cùng sức quật khởi của toàn dân đã giúp Việt Nam lấy lại được chủ quyền của mình. CSVN cũng đã lợi dụng lòng yêu nước của người dân, huy động sức người, sức của trong nhiều thập niên của thế kỷ 20, nói là để đánh đuổi “thực dân Pháp và đế quốc Mỹ” ra khỏi nước, nhưng sự thực chỉ là để đặt toàn cõi VN dưới ách thống trị của đế quốc đỏ CS. Thậm chí chúng còn quay lại bắt tay với cựu thù Hoa Kỳ để lợi dụng mà sống còn và phát triển. Hoa Kỳ vì quyền lợi của chính họ , lúc thì nói là cộng tác với miền Nam VN để bảo vệ thành trì của dân chủ, tự do; lúc lại bỏ rơi VNCH không nương tay vào năm 1975, nay thì lại muốn lợi dụng CSVN để kềm hãm tham vọng bá quyền của Trung Cộng.

Không ai thực sự vì quyền lợi của người dân VN ngoài người dân Việt. Chúng ta, vì tiền đồ của đất nước và dân tộc, hãy sáng suốt tìm ra 1 sinh lộ cho đất nước. Con đường duy nhất hiện nay là phải đoàn kết để giải thể chế độ độc tài đảng trị hiện nay tại VN. Dân chủ hóa nước nhà là con đường duy nhất để chúng ta tập trung sức mạnh của toàn dân vào công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ giang sơn gấm vóc do tổ tiên để lại. Đó cũng là con đường duy nhất để chúng ta đưa nước nhà sang trang mới, đem lại đời sống no ấm tốt đẹp cho người dân thường. Trọng trách chính là của người dân Việt hiện nay tại quốc nội vì họ chiếm đại đa số. Họ cần đẩy mạnh cuộc tranh đấu để đòi lại quyền được quyết định sinh mạng chính trị của chính mình. Cộng đồng nhỏ bé của chúng ta tại hải ngoại, tuy chỉ có vài triệu người nhưng với tinh thần tranh đấu bất khuất không khoan nhượng với CS và tay sai, với sự hy sinh đã được chứng tỏ nhiều chục năm nay, với quyết tâm không thỏa hiệp với CSVN, cũng có thể làm 1 số việc cụ thể để đồng hành với dân tộc Việt trong công việc khó khăn này. Chúng ta có thể cắt đứt nguồn tiếp tế hữu hiệu cho CSVN bằng cách không gửi tiền về VN buôn bán, kinh doanh; chỉ về Việt Nam khi có chuyện thật sự quan trọng; không hỗ trợ cho các tổ chức làm từ thiện nhưng sự thật là làm kinh tài giúp VC.

Tại hải ngoại, chúng ta có thể tích cực tham gia vào các cuộc bầu cử ở địa phương để sử dụng lá phiếu của mình 1 cách hữu hiệu, khuyến khích con em tham gia công tác phục vụ cộng đồng, không để VC lợi dụng vào các công việc làm lợi cho chúng tại hải ngoại và tại quê nhà. Chúng ta cần tự nhắc nhủ “bất cứ việc gì có lợi cho VC là có hại cho tập thể những người Việt tỵ nạn CS” và chúng ta quyết tâm sẽ không làm dù việc ấy có lợi nhất thời cho chúng ta. Sáng suốt 1 chút, quyết tâm 1 chút và can đảm 1 chút, mỗi người góp một bàn tay, cùng nhau, chúng ta sẽ thực hiện được việc lớn và giấc mơ “quang phục quê hương” của chúng ta sẽ thành hiện thực.


Nguyễn Quốc Đống
Tháng 7, 2010

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh


Đảng CSVN trong tình trạng hiểm nghèo


Tất cả vấn đề là sự cáo chung của chế độ độc tài sẽ nhường chỗ cho cái gì? Một chế độ dân chủ pháp trị lành mạnh, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc và bắt đầu ngay cuộc chạy đua rút ngắn sự tụt hậu đã quá bi đát của nước ta so với thế giới, hay một tình trạng hỗn loạn?

Đó cũng là câu hỏi: liệu những người dân chủ trong và ngoài nước, trong và ngoài bộ máy đảng và nhà nước cộng sản, có đủ sáng suốt và khôn ngoan để hình thành với nhau một kết hợp dân chủ mới đủ mạnh để đưa đất nước vào một kỷ nguyên mới hay không?

Nghiêm Văn Thạch

Đảng CSVN trong tình trạng hiểm nghèo


Tình thế đã không diễn ra như ban lãnh đạo đảng cộng sản mong đợi. Họ muốn đại hội 11 diễn ra đúng thời điểm dự định một cách êm thấm. Ngay khi bước vào giai đoạn chuẩn bị họ đã dọn dẹp chiến trường: những người đối lập dân chủ trong nước bị bắt hàng loạt, bị giải tòa và bị xử những bản án nặng; những người khác bị khống chế. Sau đó là những đợt tấn công qui mô của Cục Kỹ Thuật Nghiệp Vụ (trước đây là Cục Công An Khoa Học) đánh vào tất cả các báo điện tử đối lập có ít nhiều ảnh hưởng, làm tất cả các websites đều bị tổn thất; nhiều websites bị thiệt hại nặng, trong một vài trường hợp bị đánh sập luôn. Đợt đàn áp dọn dẹp chiến trường này vẫn còn tiếp tục, đối tượng cuối cùng là bán nguyệt san Tổ Quốc mà một số cộng tác viên bị khám nhà, thẩm vấn và được lệnh phải ngừng hợp tác. Đảng Cộng Sản Việt Nam muốn kiểm soát hoàn toàn tình thế trước khi đại hội 11 khai mạc. Tuy nhiên điều mà họ không ngờ là họ đã không kiểm soát được chính nội bộ của họ và các biến cố dồn dập đã tới, tất cả đều rất nghiêm trọng cho sự sống còn của đảng Cộng sản.

Biến cố lớn và rõ nét nhất là sự kiện, ngày 19-6, lần đầu tiên, quốc hội biểu quyết bác bỏ một dự án quan trọng do chính phủ đệ trình: dự án Đường sắt Cao tốc. Đầu tháng 7 một vụ nổ lớn khác: Tập đoàn VINASHIN bị phát giác là trên thực tế đang ở trong tình trạng phá sản, mắc nợ 80 ngàn tỉ đồng và không có khả năng hoàn trả. Nếu chia đồng đều thì mỗi người Việt Nam mất một triệu đồng. Điều đáng nói là cho đến giữa tháng 6, nghĩa là chỉ hai tuần trước khi bị phát giác là ở trong tình trạng phá sản, VINASHIN vẫn được tung hô như là thành công kinh tế vĩ đại và niềm tự hào của đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam. Và rồi đến vụ tai tiếng cực kỳ bỉ ổi trong đó các quan chức đảng và nhà nước tỉnh Hà Giang tổ chức mua dâm tập thể với các nữ sinh vị thành niên. Sắp tới chắc chắn sẽ còn nhiều vụ bê bối khác được phanh phui. Những vụ tai tiếng này đã tạo ra một trận mưa rào những bài báo phê phán và đả kích dưới mọi khía cạnh kỹ thuật, kinh tế và đạo đức. Báo chí Việt Nam hầu như được bóc lưỡi. Có cả những bài báo (tuy chưa được đăng trên báo trong nước nhưng được gửi ra nước ngoài một cách tự tin) đòi cách chức thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và truy tố ông Tô Huy Rứa, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Cả hai ông Dũng và Rứa đều là những nhân vật được coi là có triển vọng trở thành tổng bí thư đảng CSVN sau đại hội 11. Ba người có triển vọng trở thành tổng bí thư khác là Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Hồ Đức Việt.

Tất cả những bài báo này đều chính xác và đứng đắn. Nhưng hình như chúng đều không nhận diện được điều cốt lõi của các biến cố, dù đây là sự kiện chính trị đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử Việt Nam: sự sụp đổ của "triều đại Lê Đức Thọ". Tại sao? Đó là nếu nhìn kỹ, ta thấy chúng đều có tác dụng tai hại cho uy tín và chỗ đứng của ông Nguyễn Tấn Dũng, người vừa kế thừa triều đại này. Vào lúc này, sau những gì đã xảy ra, khả năng ông Dũng trở thành tổng bí thư gần như là con số không; khả năng ông sẽ phải ra đi một cách bẽ bàng sau đại hội 11, trái lại, gần như chắc chắn. Tình thế đã thay đổi rất nhanh chóng, bởi vì chỉ cách đây hơn hai tháng, đầu tháng 5/2010, một nhân vật rất thạo tin trong nội bộ đảng cộng sản còn quả quyết : "Nếu đại hội diễn ra ngay bây giờ thì khả năng ông Dũng đắc cử tổng bí thư là 99%". Hình như cũng cảm nhận được những nguy cơ cho ông Dũng, nhân vật này nói tiếp: "Nhưng còn 8 tháng nữa đại hội mới họp, tình hình có thể thay đổi từ đây đến đó". Tại sao một người đang có 99% hy vọng thắng lợi lại có thể thua sau tám tháng? Lý do nào, nếu không phải là vì chính nội bộ đảng CSVN đang rối loạn?

Nhưng trước hết, hãy nhắc lại vài nét về "triều đại Lê Đức Thọ". Ông Thọ nắm toàn quyền thực sự trong đảng CSVN từ đại hội 3 năm 1960 với sự đồng tình của tổng bí thư Lê Duẩn. Không ai có thể ngờ vực uy quyền tuyệt đối của ông Thọ, được gọi một cách kinh sợ là Sáu Búa. Theo hồi ký "Viết cho Mẹ và Quốc Hội" của ông Nguyễn Văn Trấn (xuất bản năm 1993), uy quyền của ông Thọ lớn đến nỗi ông có thể cấm cả ông Hồ Chí Minh phát biểu trong một hội nghị mà ông Hồ Chí Minh cũng đành chịu. Được ông Trấn hỏi về ông Lê Đức Thọ, ông Tôn Đức Thắng, chủ tịch nước, thú nhận một cách mộc mạc: "Đ.M., tao cũng sợ nó!". Theo nhiều nhân chứng, ông Thọ từng xác quyết nhiều lần: "Đảng là tao!". Ông Thọ không chính thức là nhân vật số 1 trong đảng; trong danh sách Bộ Chính Trị ông chỉ đứng hàng thứ năm, sau các ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng. Nhưng ông nắm bộ máy đảng và là nhân vật quyền lực nhất. Ông có thể bắt giam những cộng sự viên của các nhân vật này mà không ai dám chống lại. Ông cũng đích thân chỉ huy những công tác quan trọng nhất của chế độ khi cần: Giám sát Hội Nghị Paris và trực tiếp thương thuyết với Mỹ; Chỉ huy cuộc tổng tấn công dứt điểm Miền Nam năm 1975 với vai trò chính ủy. Lê Đức Thọ có thể thay đổi đường lối của đảng theo ý mính. Cho tới 1968 ông chủ trương thân Trung Quốc và tiêu diệt khuynh hướng thân Liên Xô trong đảng (mà ông buộc tội là "bọn xét lại chống đảng"); từ 1968 trở đi ông quay sang thân Liên Xô chống Trung Quốc. Rồi sau khi Gorbachev lên cầm quyền ông quay lại với Trung Quốc. Nói chung, Lê Đức Thọ muốn làm gì thì làm, muốn hướng đảng và chế độ CSVN theo hướng nào tùy ý. Ông có toàn quyền. Và chính quyền lực của Lê Đức Thọ đã giúp cho đảng CSVN thắng lợi mặc dù những sai lầm khủng khiếp: Cải cách ruộng đất; Phát động cuộc chiến với Miền Nam; Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968; Chiến dịch mùa hè đỏ lửa 1972. Tất cả những sai lầm đó gây thiệt hại ghê gớm cho đảng và chế độ, đồng thời cũng là những thảm kịch đối với Việt Nam. Một đảng cầm quyền bình thường có thể sụp đổ chỉ vì một trong những sai lầm như thế, nhưng đảng CSVN vẫn trụ được và sau cùng giành được thắng lợi nhờ có Lê Đức Thọ.

Bí quyết thành công của Lê Đức Thọ là ông đã tạo ra một điều mà anh Nguyễn Gia Kiểng, trong nhiều bài viết, gọi là "một đảng cầm quyền trong đảng", một thứ ban trật tự trong đảng, khống chế đảng nhưng giữ được kỷ luật trong đảng và dùng đảng để khống chế phần còn lại của xã hội. Cũng phải nói là Lê Đức Thọ đã rất may – và đất nước Việt Nam đã rất không may – là trước mặt đảng cộng sản không có một chính đảng đúng nghĩa nào. Nếu Việt Nam Cộng Hòa có được một đảng cầm quyền đúng nghĩa thì lịch sử cận đại Việt Nam đã rất khác. Nhưng thực tế là Lê Đức Thọ đã cầm quyền trong suốt thời gian từ cuối thập niên 1950 trở đi cho đến khi ông chết. Ở một khía cạnh nào đó, quyền lực của ông còn kéo dài sau khi ông đã chết. Trước khi chết Lê Đức Thọ đưa Nguyễn Văn Linh ra làm tổng bí thư sau đại hội 6 (tháng 12-1986) để thực hiện những biện pháp đổi mới bắt buộc. Khi Nguyễn Văn Linh đã làm xong nhiệm vụ, ông trao quyền cho những người kế thừa mà ông đã chọn: Đỗ Mười và Lê Đức Anh.

Cũng nhờ có đảng Lê Đức Thọ, lần này do hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh cùng lãnh đạo, mà đảng CSVN đã trụ được sau những sai lầm khủng khiếp – chính sách hạ nhục tập thể và bỏ tù cả nước đối với miền Nam sau 1975, cuộc chiếm đóng Campuchia, chính sách đánh tư sản – và sau khi chủ nghĩa cộng sản và khối cộng sản sụp đổ. Liên minh Mười – Anh, mà nhiều người có ác cảm gọi là "đảng MA", vẫn còn cầm quyền cho tới nay. Hai ông thái thượng hoàng Đỗ Mười và Lê Đức Anh vẫn trị vì sau hậu trường; Nông Đức Mạnh chỉ là một con cờ. Cả hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh đều là những người có bản lãnh nhưng thời cuộc đã biến chuyển quá nhanh chóng và mãnh liệt đối với họ. Sự phát triển dồn dập của các phương tiện giao thông và truyền thông hiện đại, phong trào toàn cầu hóa, sự sụp đổ của ý thức hệ Mác – Lênin và sự tăng cường hợp tác giữa các quốc gia, v.v., đều là những vấn đề vượt tầm hiểu biết của họ. Họ đã chỉ biết lúng túng chống đỡ và noi theo Bắc Kinh. Vì không làm chủ được tình huống mới, họ đã không tìm ra được những con người phù hợp để bàn giao quyền hành như ông Lê Đức Thọ đã bàn giao cho họ. Kết quả là cả hai đã ngoài 90 tuổi mà vẫn không có người kế thừa; cái "đảng cầm quyền trong đảng" dần dần mất thực chất đồng nhịp với sức khỏe mỗi ngày suy yếu thêm của hai ông. Trong tình huống đó, Nguyễn Tấn Dũng đã được chọn như một người kế thừa tự nhiên dù không phải là người kế thừa hợp lý. Vả lại đảng cộng sản cũng không có một nhân vật nào đủ tầm vóc để lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới.

Ông Dũng là con đỡ đầu – có dư luận còn cho rằng là con ruột không chính thức – của ông Lê Đức Anh và cũng được ông Đỗ Mười chấp nhận vì ông Mười không có người con nào khá cả. Trong tình trạng đã suy kiệt hoàn toàn cả thể xác lẫn trí tuệ, sau cùng họ dồn sự ủng hộ cho ông Dũng, mà họ đã nâng đỡ từ lâu bằng cách cho thăng tiến nhanh chóng từ một y tá không có một học lực nào lên đến thủ tướng, qua các chức vụ Bí thư huyện ủy, tỉnh ủy, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Thủ tướng, kể cả Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước. Nhưng ông Dũng vừa thiếu bản lãnh lại vừa chỉ được vai trò kế thừa quá trễ, vào lúc "đảng cầm quyền trong đảng" của hai ông Mười – Anh đã rã rượi. Vì vậy ưu thế ban đầu của ông đã sút giảm nhanh chóng. Trong ít nhất hai năm qua hầu như tất cả mọi biến cố lớn đều bất lợi cho ông: Vụ bauxite Tây Nguyên trong đó ông xuất hiện như một con cờ của Trung Quốc; Đợt đàn áp thô bạo những người dân chủ do ông chủ xướng khiến ông mất cảm tình của thế giới và của những thành phần cởi mở trong đảng. Rồi vụ Đường Sắt Cao Tốc, các vụ Vinashin, than Quảng Ninh và dâm ô ở Hà Giang. Tất cả đều chứng tỏ sự hiểu biết rất hạn chế và sự bao che tham nhũng của ông. Càng bối rối ông Dũng lại càng phải mua chuộc sự ủng hộ của cấp lãnh đạo tham ô và càng dính líu hơn với họ. Phe đảng của ông vì thế ngày càng giống một phe đảng mafia. Cái bản tính vơ vét và chia chác ngoài vòng pháp luật này ông Dũng đã tiêm nhiễm ngay từ thời thơ ấu khi ông đi du kích lúc mới 11 tuổi, đặc biệt là trong giai doạn làm bí thư huyện ủy kiêm trưởng công an huyện Hà Tiên (1980-1986) và được trao một trách nhiệm rất quan trọng là chỉ huy hoạt động buôn lậu để làm kinh tài cho đảng tại cửa biển Hà Tiên. Gần đây, ông gây ngạc nhiên khi khoe rằng từ ngày lên làm thủ tướng ông chưa kỷ luật một ai cả, trái hẳn với lời tuyên bố đanh thép khi ông nhận chức thủ tướng là quyết tâm chống tham nhũng, nếu không chống được tham nhũng thì từ chức.

Đối thủ lợi hại nhất của ông Dũng trong cuộc tranh đua giành quyền lực là ông Trương Tấn Sang, cũng sinh năm 1949 như ông Dũng. Trương Tấn Sang là một nhân vật rất mưu lược, dù bê bối về mặt đạo đức. Ông Sang là đệ tử ruột và cánh tay mặt của ông Võ Văn Kiệt từ hồi ông Kiệt còn nắm toàn quyền trong Miền Nam. Khi ông Kiệt làm Thủ tướng, ông thay ông Kiệt làm Bí thư Thành ủy Sài gòn, thực tế là nhân vật quyền lực nhất Miền Nam, rồi được triệu ra Hà Nội giữ một chức vụ cực kỳ quan trọng: Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, và vào Bộ Chính Trị. Bản lĩnh của ông Sang là ở chỗ ngay cả khi ông Kiệt mâu thuẫn với hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh rồi bị cô lập, ông vẫn giữ được quan hệ tốt với hai ông này và tiếp tục được nâng đỡ để leo dần tới chức vụ Thường trực Ban bí thư, nhân vật thứ hai trong đảng. Cho đến năm 2009 hình như hai ông Mười và Anh hãy còn một lưỡng lự nào đó giữa ông Dũng và ông Sang. Rất có thể họ muốn hai ông này liên kết với nhau như chính họ đã liên kết với nhau để giữ quyền lực. Chỉ từ 2009 trở đi, sự chọn lựa của họ mới lệch hẳn về ông Nguyễn Tấn Dũng.

Trong sự cạnh tranh với ông Dũng, theo một thông tin rất chính xác, ông Sang đã làm một sai lầm lớn là vụ Đảng Dân Chủ. Qua Nguyễn Sỹ Bình, ông muốn mượn tay Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, làm dụng cụ để đánh phá ông Dũng trong danh nghĩa đối lập dân chủ. Trần Huỳnh Duy Thức được trao những tài liệu để tố giác Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng trên các blog của mình. Nhưng ông Sang đã dùng những người quá kém. Phe ông Dũng phát giác được và bắt cả bọn. Trước những chứng cớ không thể chối cãi, tất cả đã nhanh chóng nhận tội và xin khoan hồng. Trước đó họ tỏ ra mạnh bạo bao nhiêu vì cậy có ô dù của ông Sang thì sau đó họ khiếp nhược bấy nhiêu vì thấy ông Dũng đã thắng. Biên bản nhận tội của họ trong đó có sự liên hệ với phe Trương Tấn Sang được gửi lên Bộ Chính Trị, khiến ông Sang phải "nhận khuyết điểm là đã thiếu cảnh giác". Sau vụ này, vấn đề ông Sang làm Tổng bí thư hầu như không còn đặt ra nữa; ông Dũng chắc chắn sẽ là Tổng bí thư; vấn đề chỉ là ngoài chức tổng bí thư, ông sẽ kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch nước hay thủ tướng. Nhưng như thế là quá chủ quan, coi thường mưu lược của ông Sang và vây cánh mà ông đã tạo ra trong hơn mười năm giữ vai trò ban phát ơn huệ trong chức vụ Trưởng Ban Kinh tế Trung ương và Thường trực Ban bí thư. Ông Sang chuyển sang liên kết với các ông Nguyễn Phú Trọng và Hồ Đức Việt, và dần dần tranh thủ được khối đảng viên lo ngại bản tính anh chị và dung túng tham nhũng của ông Dũng.

Cũng phải nói rằng trước mặt các đảng viên trẻ và cởi mở, ông Dũng là người rất khó chấp nhận: ông không có kiến thức cũng chưa hề có một công trạng nào, nhưng lại rất quyết đoán và hống hách. Ông Dũng chỉ là một hoàng tử, con thái thượng hoàng Lê Đức Anh, cháu thái thượng hoàng Đỗ Mười. Không thể kể hết những sai lầm lố bịch của ông Dũng. Một vài thí dụ: vụ ông tung tiền ra mua 12 tỉ USD để "tránh cho đồng đô-la bị mất giá" làm lạm phát tăng vọt và nhân dân khốn đốn hồi cuối năm 2007; vụ bauxite Tây Nguyên; cao điểm là dự án Đường Sắt Cao Tốc.

Vụ Đường Sắt Cao Tốc tiêu biểu cho cách làm việc của ông Dũng; nó đồng thời cũng là thất bại thê thảm và công khai, đánh dấu sự sụp đổ của triều đại Lê Đức Thọ, kế thừa bởi hai ông Mười – Anh và dự định chuyển giao cho ông Nguyễn Tấn Dũng. Đây là một dự án rất lớn, kéo dài 25 năm, với tổng số chi phí dự trù gần 60 tỉ USD, nghĩa là hai phần ba tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam, nhưng đã được đưa ra để yêu cầu quốc hội biểu quyết thông qua mà không hề có được một ước lượng nào về tính khả thi, tiến trình thi công, các hậu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Tất cả chỉ tóm gọn trong một tài liệu 30 trang gồm toàn những biện luận chung chung và hấp tấp. Một quốc hội bình thường phải coi sự kiện chính phủ yêu cầu biểu quyết một dự án như vậy như một sự xúc phạm. Trái với những lần trước (ngay cả như vụ bauxite Tây Nguyên), dự án này chưa hề có ý kiến của bộ chính trị và ban bí thư. Đây là một sự kiện rất không bình thường trong chế độ cộng sản Việt Nam cũng như trong mọi chế độ cộng sản đã có từ trước tới nay. Theo qui luật của các chế độ cộng sản – mà đảng CSVN thực hiện một cách triệt để – thì bộ chính trị quyết định, ban bí thư thi hành thông qua chính phủ. Nói cách khác, chính phủ chỉ là dụng cụ của ban bí thư để thi hành những quyết định của bộ chính trị. Như vậy không thể có việc chính phủ đưa ra quốc hội – một cơ quan bù nhìn chỉ có vai trò đóng dấu chính thức hóa các quyết định của đảng – một dự án chưa được ban bí thư chấp nhận. Nhưng đó là điều đã xảy ra.

Cần nhấn mạnh rằng không phải chỉ trong các chế độ cộng sản mà ngay cả trong các chế độ dân chủ, thủ tướng hoặc tổng thống cũng chỉ đưa ra quốc hội biểu quyết những dự luật đã có đồng thuận trong đảng cầm quyền; vì thế chưa bao giờ có trường hợp chính phủ đưa ra quốc hội biểu quyết một dự án mà đảng cầm quyền chưa thông qua. Và ngược lại, khi một đại biểu quốc hội thuộc đảng cầm quyền biểu quyết chống lại một dự án do chính phủ của đảng mình đưa ra thì ông ta, hay bà ta, phải hoặc từ chức dân biểu hoặc bị khai trừ ngay lập tức. Mỹ là trường hợp đặc biệt duy nhất trong đó một dân biểu có thể biểu quyết trái với lập trường của đảng mình nhưng trên thực tế số lượng dân biểu xé rào này cũng chỉ là một vài người mà thôi, chứ không thể nửa chống nửa thuận như vụ biểu quyết Đường Sắt Cao Tốc vừa rồi. Việt Nam vừa chứng kiến một sự kiện chưa từng xảy ra trong lịch sử thế giới!

Nhưng tại sao ông Nguyễn Tấn Dũng lại đưa ra quốc hội biểu quyết một dự án mà ban lãnh đạo đảng chưa nhất trí? Chắc chắn không phải là vì ban lãnh đạo đảng muốn nhường quyền cho quốc hội. Dự án này quá quan trọng, vả lại họ chẳng coi quốc hội ra gì cả.

Cũng không thể là vì bộ chính trị không nhất trí được trên một dự án quá phức tạp đã nhường quyền trọng tài cho một cơ quan đông đảo hơn. Nếu quả như vậy thì họ đã chọn ban chấp hành trung ương, cơ quan quyền lực cao nhất trong đảng sau đại hội đảng, thay vì một định chế giả tạo như quốc hội, trong đó có nhiều người không hề có một thẩm quyền nào và cũng không có một trình độ nào; điển hình là chuyện ông "đại biểu" tỉnh Hà Nam lên diễn đàn quốc hội nói một cách ngớ ngẩn rằng có một liên hệ giữa chỉ số thông minh (IQ) và đường sắt cao tốc.

Vậy thì chỉ còn lại hai trường hợp. Một là ông Dũng sau khi bị thiểu số trong ban lãnh đạo đã bất chấp đảng đem ra cho quốc hội biểu quyết và bị phe chống đối phản công đánh bại. Nếu quả như vậy thì nội bộ đảng đã hỗn loạn lớn. Và hoặc ông Dũng phải bị kỷ luật, hoặc sự kiện này chứng tỏ là đảng cộng sản đã bất lực. Trước đây, năm 1990, ông Trần Xuân Bách, người được dự trù làm Tổng bí thư sau đại hội 7, đã bị kỷ luật, cách chức khỏi cả Bộ Chính Trị lẫn Ban bí thư lẫn Trung ương đảng chỉ vì một bài nói tán thành đa nguyên đa đảng.

Hai là (có nhiều khả năng hơn) ông Dũng đã có được một đa số tương đối trong ban lãnh đạo đảng, nhưng không đủ đa số để thông qua (thí dụ 30% thuận, 20% chống, 50% không có ý kiến), nên đã có thể đưa dự án ra quốc hội biểu quyết.

Diễn tiến cuộc biểu quyết cần được đặc biệt lưu ý. Mới đầu, ông Dũng đưa ra biểu quyết toàn bộ dự án và được 42% phiếu thuận, 38% phiếu chống; dự án không được thông qua. Sau đó, ông Dũng triệt thoái, xin biểu quyết một dự án B khiêm nhường hơn và dễ chấp nhận hơn: thực hiện một khúc đường sắt cao tốc hoặc từ Hà Nội tới Vinh hoặc từ Sài gòn tới Nha Trang để thử nghiệm sau đó sẽ tùy theo kết quả mà quyết định có nên thực hiện toàn bộ dự án hay không. Chắc chắn ông Dũng hy vọng rằng đây là một thỏa hiệp chấp nhận được. Nhưng kết quả đã ngược lại với sự chờ đợi của ông. Lần này số phiếu thuận chỉ là 38% trong khi phía chống tăng lên 42%. Phải hiểu rằng một số đại biểu quốc hội (trên 90% cũng là đảng viên cộng sản) tưởng rằng ông Dũng ở thế mạnh nên đã bỏ phiếu thuận ở vòng đầu, nhưng sau đó thấy ông không có ưu thế nên đã quay lưng lại với ông. Đó là dấu hiệu rõ nét về sự rã hàng của "đảng Lê Đức Thọ" mà ông là người kế thừa cuối cùng. Thất bại này đã mở cửa cho những đợt tấn công khác: vụ VINASHIN; vụ mua dâm thiếu nhi tại Hà Giang; vụ Than Quảng Ninh. Uy tín của ông Dũng lúc này hầu như không còn gì.

Cũng nên nhìn lại phe đảng của ông Dũng. Trong cương vị Thủ tướng, ông đã dung túng tham nhũng và chia chác quyền lợi cho nhiều người để có vây cánh. Cuối cùng phe phái của ông chủ yếu là giai cấp tư sản đỏ. Hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh chắc cũng phải chua sót trước sự biến chất này của "đảng cầm quyền trong đảng" mà họ ít nhiều vẫn còn là những người đứng đầu. Hai ông, dù kiến thức không đủ để thích nghi với bối cảnh mới, cũng là những người có khí phách.

Đến đây, cũng nên tự hỏi tại sao ông Dũng lại liều lĩnh đem biểu quyết một dự án phiêu lưu như vậy? Lý do có thể là vì số tiền khổng lồ, gần một tỉ rưỡi USD, dành cho việc nghiên cứu. Các chuyên viên về Đường Sắt Cao Tốc đều cho rằng chi phí nghiên cứu này quá cao cho một dự án chỉ dùng những kỹ thuật sẵn có. Và vì là chi phí nghiên cứu, khoản này có thể được sử dụng và chia chác ngay. Lý do cơ bản, như vậy, là tham nhũng. Ông Dũng đã trở thành con tin của giai cấp tư sản đỏ. Điều này dễ hiểu; trong một xã hội mà cái gì cũng mua được thì kẻ có tiền cũng là kẻ có thực quyền. "Đảng cầm quyền trong đảng" mà ông Lê Đức Thọ xây dựng ra đang tan rã, và tan rã trong sự bê bối.

Trước hết, trong những ứng cử viên vào chức tổng bí thư có thể loại bỏ ông Tô Huy Rứa. Ông Rứa chưa bao giờ là một ứng cử viên nặng ký. Ban tuyên giáo của ông cũng chẳng tuyên truyền và giáo dục được gì, nó chỉ có vai trò một ban kiểm duyệt báo chí. Vụ mua dâm trẻ em ở Hà Giang coi như đã đánh một dấu chấm hết vào khả năng trở thành tổng bí thư của ông.

Trừ một đảo ngược tình thế khó tưởng tượng, ông Nguyễn Tấn Dũng coi như tuyệt vọng. Uy tín của ông đã xuống thấp và còn tiếp tục xuống. Nếu giả thử hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh dốc toàn bộ uy tín để ủng hộ ông đồng thời giới tư sản đỏ cũng dốc hết tài lực để hỗ trợ, giúp ông đạt được chức tổng bí thư thì đó sẽ là một thảm họa cho cả đảng và đất nước. Ông Dũng hoàn toàn không phải là mẫu người mà đất nước chấp nhận được. Ông không học hành gì, đi du kích từ lúc 11 tuổi vào lúc đảng cộng sản còn là một đảng khủng bố, nhất là tại các tỉnh Cà Mau, Rạch Giá, cái nôi chính trị của ông, nơi hoạt động của lực lượng cộng sản chủ yếu là ám sát, bắt cóc, thủ tiêu, đặt mìn. Ông lớn lên và được đào tạo ngoài vòng pháp luật, và được thăng thưởng nhanh chóng cũng nhờ hoạt động buôn lậu qui mô tại cửa biển Hà Tiên khi ông là trưởng công an và bí thư huyện ủy Hà Tiên. Bản thân ông là một người rất tham nhũng và đang là đại diện của giai cấp tư sản đỏ. Đó là một mẫu người cần phải loại khỏi sinh hoạt chính trị. Tuy vậy phe đảng của ông còn khá mạnh.

Ba ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng và Hồ Đức Việt rất có thể sẽ liên kết với nhau chống ông Dũng để giành thắng lợi trong đại hội 11 và chia quyền. Họ có thể ít nhiều được sự yểm trợ của ông Nguyễn Minh Triết vốn cũng không ưa ông Dũng. Họ cũng có thể liên kết với những người có thế lực như ông Phùng Quang Thanh, ông Phạm Quang Nghị.

Nhưng một liên minh như vậy không phải là giải đáp cho đảng cộng sản, và cũng không phải là giải đáp cho đất nước. Ông Trương Tấn Sang rất mưu lược, nhưng bê bối về mặt đạo đức. Cái khôn của ông chủ yếu là cái khôn luồn lách chứ không phải là cái khôn để lãnh đạo một đất nước. Ông cũng không chứng tỏ một viễn kiến nào, ngoại trừ cóp nhặt mô hình Trung Quốc. Nên biết ông Trương Tấn Sang là cấp lãnh đạo cộng sản đầu tiên cổ võ cho công thức "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Trung Quốc. Ngay từ năm 1980, ông đã viết một loạt bài trên báo Sài Gòn Giải Phóng ca tụng mô hình này mà ông gọi là "chủ nghĩa tư bản nhà nước".

Ông Nguyễn Phú Trọng, trái với một dư luận dai dẳng đánh giá ông là một người tối dạ, là một người có tài tổng hợp và thỏa hiệp. Một cấp lãnh đạo cũ của ông thuật lại rằng thời gian còn làm thư ký trong bộ chính trị ông có thể lập biên bản những buổi họp trong đó các ủy viên nói dài dòng chẳng ra đầu đuôi gì cả một cách khéo léo khiến mọi người đều thỏa mãn vì thấy có ý kiến của mình. Nhưng sự hiểu biết của ông quá hạn chế, ông chỉ biết có một chủ nghĩa Mác – Lênin, một chủ nghĩa sai. Nếu có quyền lực, ông sẽ sử dụng quyền lực để duy trì ý thức hệ sai đó. Ông hoàn toàn không phải là con người của đổi mới.

Còn ông Hồ Đức Việt? Ông là người của bộ máy đảng, chưa hề giữ một chức vụ nào trong chính phủ, ít ai biết tới ông. Nếu cầm quyền, ông sẽ là người lo cho đảng, đặt quyền lợi của đảng trên quyền lợi của đất nước và sẽ cố duy trì độc quyền lãnh đạo của một đảng tham nhũng và thoái hóa. Vả lại ông không phải là người có viễn kiến. Cho tới nay ông chưa hề phát biểu một ý kiến quan trọng nào cả. Một người đã ngoài 60 mà vẫn chưa đưa ra được một ý kiến gì thì phải hiểu là một người không có ý kiến. Ông không phải là mẫu người lãnh đạo quốc gia trong một thế giới đang trải qua một cuộc cách mạng trí thức, trong đó ý kiến và sáng kiến là những yếu tố quyết định chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc.

Một giải pháp khác được nghĩ tới là ông Phùng Quang Thanh; trọng lượng của ông sẽ tăng lên nếu chính sách bành trướng bá quyền của Trung Quốc được nhìn như là mối nguy lớn nhất. Tuy vậy, ông Phùng Quang Thanh cũng không phải là người có viễn kiến, như ông Hồ Đức Việt và có thể còn kém cả ông Việt. Một mối nguy khác: nếu ông Phùng Quang Thanh cầm quyền là ông sẽ phải dựa vào quân đội và do đó sẽ phải duy trì, không chừng còn tăng cường, một tình trạng phải chấm dứt: đó là để quân đội kinh doanh. Hiện nay quân đội không chuyên lo bảo vệ đất nước mà còn làm kinh tế. Tình trạng này phải chấm dứt vì một quân đội kinh doanh chỉ có thể kinh doanh dở trong khi mất khả năng chiến đấu.

Nhưng dù ai hay liên minh nào nắm được bộ máy đảng, thì cũng chỉ nắm được phần trên và bề ngoài chứ không còn thực sự kiểm soát và điều động được đảng nữa. Tại sao? Đó là vì một chính đảng chỉ có thể đoàn kết được nội bộ nếu có được đồng thuận trong một lý tưởng chung và một dự án chính trị đứng đắn. Đảng cộng sản chỉ còn một lý tưởng chính thức giả tạo là chủ nghĩa Mác – Lênin, một chủ nghĩa không còn ai, kể cả tổng bí thư đảng cộng sản, tin là đúng. Sự phân hóa và chia rẽ là chắc chắn. Trên thực tế, đảng cộng sản đã biến chất thành một giai cấp bóc lột. Nó đã mất đồng thuận và sức sống. Để có thể tồn tại, đảng cộng sản cần một lãnh tụ đủ tài đức và bản lãnh để đoàn kết mọi người và áp đặt những thay đổi bắt buộc, nhưng thực tế là nó không có được một con người như thế. Ban lãnh đạo xuất phát từ đại hội 11 sẽ chỉ gồm những con người sàn sàn như nhau, tất cả đều không có thành tích gì dù trong thời chiến hay trong thời bình, ở những mức độ khác nhau tất cả đều tham nhũng và đều chỉ có một trình độ hiểu biết thấp hơn một số đông đảo đảng viên trẻ. Những cấp lãnh đạo như thế vừa không thể gắn bó với nhau vừa chắc chắn bị đa số đảng viên phản đối. Tai họa không đến từ bên ngoài mà từ chính nội bộ đảng.

Trong thế dùng dằng bế tắc này, đại hội 11 sẽ chỉ là một đại hội dậm chân tại chỗ, nhàm chán, nhắc lại những điều cũ rích và nhạt nhẽo mà không ai, kể cả người nói, muốn nghe. Mối nguy lớn nhất và chắc chắn sẽ đến, đối với đảng cộng sản là sẽ không có thay đổi định hướng nào cả.

Nhưng muốn dậm chân tại chỗ cũng không được. Thế giới đang thay đổi nhanh chóng, nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài hai năm nay và vẫn chưa chấm dứt đang đòi hỏi mỗi quốc gia khẩn cấp xét lại hầu như mọi chính sách. Như thế, ban lãnh đạo mới của đảng cộng sản sau đại hội 11, dù gồm những ai, cũng sẽ bắt buộc phải làm ngược lại những nghị quyết của đại hội vì một lý do giản dị là đó chỉ là những nghị quyết lỗi thời và rỗng nghĩa, khi không nghịch lý. Sẽ có tranh cãi và xung đột lớn trong khi không ai thực sự kiểm soát được đảng cả.

Trong bối cảnh phân hóa đó, yếu tố từ trước đến nay vẫn giúp cho đảng cộng sản duy trì được kỷ luật, và tồn tại, là "đảng cầm quyền trong đảng" mà ông Lê Đức Thọ tạo dựng ra lại tan rã.

Đảng cộng sản sẽ không thể tồn tại như hiện nay sau đại hội 11. Sự suy sụp, thậm chí tan rã, là chắc chắn. Một đảng cầm quyền chỉ có thể áp đặt được chuyên chính trong xã hội nếu trước đó nó áp đặt được chuyên chính trong nội bộ. Đảng cộng sản không độc tài được trong nội bộ nên sẽ không thể duy trì chế độ độc tài. Chế độ độc tài sẽ cáo chung, có mọi triển vọng trước khi khóa 11 của ban chấp hành trung ương chấm dứt, nghĩa là trước năm 2016.

Tất cả vấn đề là sự cáo chung của chế độ độc tài sẽ nhường chỗ cho cái gì? Một chế độ dân chủ pháp trị lành mạnh, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc và bắt đầu ngay cuộc chạy đua rút ngắn sự tụt hậu đã quá bi đát của nước ta so với thế giới, hay một tình trạng hỗn loạn?

Đó cũng là câu hỏi: liệu những người dân chủ trong và ngoài nước, trong và ngoài bộ máy đảng và nhà nước cộng sản, có đủ sáng suốt và khôn ngoan để hình thành với nhau một kết hợp dân chủ mới đủ mạnh để đưa đất nước vào một kỷ nguyên mới hay không?


Nghiêm Văn Thạch

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh


23 July 2010

TÙ SỸ NGUYỄN ANH HẢO


Như bao số phận Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa khác. Sau ngày gãy súng 30/04/1975, anh bị tập trung “cải tạo” qua nhiều trại, từ Minh Rồng - Tân Rai, Lâm Đồng đến Sông Mao, Tà Dông và Hàm Trí phan Thiết. Ngày 10/11/1977 anh cùng ba đồng đội vượt ngục về Di Linh : Đại Úy Hiển, đại đội trưởng Đại Đội chiến Tranh Chính Trị tiểu khu Lâm Đồng; Đại Úy Tam, Chi khu phó chi khu Di Linh và Đại Úy Hoàng Văn Bản, đại đội trưởng Đại Đội Trinh Sát, sư đoàn 23. Trong chuyến vượt ngục ngày, Đại Úy Tam bị bắn trọng thương và được anh cùng đồng đội dìu đi trên đường đào tẩu. Năm 1978, anh Hảo tham gia tổ chức võ trang Việt Vương Phục Quốc, tại Cần thơ. Sau khi bị lộ, một số thành viên của tổ chức đã bị bắt – trong đó có anh Nguyễn Anh Hảo. Đầu năm 1980, sau khi bị biệt giam gần hai năm, anh Nguyễn Anh Hảo được phóng thích.

Nguyễn Ngọc Quang

TÙ SỸ NGUYỄN ANH HẢO


Nguyễn Ngọc Quang
Đồng Nai Ngày 22/06/2010


Bê tông cốt sắt bốn bức tường
Trói chăng chỉ được xác vô thường
Hồn ta đã hòa theo Hồn Nước
Mưu tự do thực cho Quê Hương




Tôi may mắn được biết anh Nguyễn Anh Hảo trong vài ba tháng trước khi tôi mãn án tại K2, trại giam Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Khi mà trại giam dồn những anh em tù nhân chính trị của K3 và K2 lại giam chung với nhau tại khu giam riêng K2 vào ngày 20/06/2009. Trước đây, khi trả lời phỏng vấn một phóng viên của DCVOnline.com, tôi đã nói: “Được sống chung với những người này trong môi trường tù, tôi mới thấy được cái nhân cách vô cùng cao quý ở họ. Thật diễm phúc khi trong đời được một lần sống chung với những người con hiếu thảo của Mẹ Việt Nam. Tôi thật tự hào về họ. Tôi yêu quý và trân trọng tất cả vì sự hy sinh của họ và vì ý chí kiên cường của họ.”.

Đại Úy Nguyễn Anh Hảo sinh ra trong một gia đình Ki-Tô Giáo năm 1938 tại B’Lao. Bố mẹ anh di cư vào B’Lao vào những năm 30s của thế kỷ 20, theo chương trình mộ phu cao su của người Pháp.

Đã bước vào tuổi “cổ lai hy”, cùng với hơn 22 năm tù đày trong ngục tù Cộng Sản khiến cho trí nhớ của anh giảm sút khá nhiều. Anh cho biết năm 1966, anh tham gia lớp huấn luyện Khóa 3 - Sỹ Quan Đặc Biệt tại Thủ Đức. Số quân : 62/151657. Sau khi tốt nghiệp, anh được phong quân hàm Thiếu Úy và được điều động về tiểu khu Phong Dinh – Cần Thơ, giữ chức đại đội trưởng đại đội 657 Địa Phương Quân. Năm 1970, anh được thăng quân hàm Trung Úy và chuyển về B’Lao. Đầu năm 1975, anh Hảo được đi học lớp Bộ binh Cao Cấp tại căn cứ Thái Lan (thuộc Long Thành – Đồng nai ngày nay) ba tháng rưỡi. Sau đó được phong quân hàm Đại Úy và giữ chức vụ trưởng Ban 3, kiêm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 469 (hoặc 279 – anh cũng không còn nhớ rõ), đóng tại Tam Bố, Di Linh, KBC 4409.

Như bao số phận Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa khác. Sau ngày gãy súng 30/04/1975, anh bị tập trung “cải tạo” qua nhiều trại, từ Minh Rồng - Tân Rai, Lâm Đồng đến Sông Mao, Tà Dông và Hàm Trí phan Thiết. Ngày 10/11/1977 anh cùng ba đồng đội vượt ngục về Di Linh : Đại Úy Hiển, đại đội trưởng Đại Đội chiến Tranh Chính Trị tiểu khu Lâm Đồng; Đại Úy Tam, Chi khu phó chi khu Di Linh và Đại Úy Hoàng Văn Bản, đại đội trưởng Đại Đội Trinh Sát, sư đoàn 23. Trong chuyến vượt ngục ngày, Đại Úy Tam bị bắn trọng thương và được anh cùng đồng đội dìu đi trên đường đào tẩu. Năm 1978, anh Hảo tham gia tổ chức võ trang Việt Vương Phục Quốc, tại Cần thơ. Sau khi bị lộ, một số thành viên của tổ chức đã bị bắt – trong đó có anh Nguyễn Anh Hảo. Đầu năm 1980, sau khi bị biệt giam gần hai năm, anh Nguyễn Anh Hảo được phóng thích. Khoảng tháng 02/1981, anh Hảo tìm đường qua Cambodia, tiếp tục hành trình tìm đường đấu tranh giành lại Tự Do – Dân Chủ cho bản thân, gia đình và Dân Tộc. Xin lưu ý rằng, trong thời điểm này, từ Cambodia vượt biên qua Thailand không đến nỗi khó đối với những con người gan dạ và mưu trí như anh Hảo. Nhiều người đã khuyên anh nên qua Thailand để xin tỵ nạn Cộng Sản tại một đệ tam quốc gia, nhưng anh Hảo đã nhất mực từ chối bởi trăn trở về những số phận người dân Miền Nam đang còn bị đọa đày dưới sự cai trị hà khắc của nhà cầm quyền Hà Nội thời đó. Nghiệp tù đày như vận vào những con người yêu nước chân chính nhưng sanh bất phùng thời. Đầu năm 1985, anh bị bắt và bị giam giữ tại Battambang rồi một năm sau, ngày 16/01/1986, anh bị đưa về Việt Nam bị giam giữ bị điềuu tra xét hỏi tại B34, sau đó anh lại bị di lý về Lâm Đồng thẩm vấn. Không hề được xét xử, cựu đại úy Nguyễn Anh Hảo bị đưa vào biệt giam tại trại giam Đại Bình, Lâm Đồng. Dù bị bắt vào đầu năm 1985, nhưng trong giấy ra trại, nhà nước CSVN dựa vào ngày chúng đưa anh về Việt Nam là ngày 16/01/1986 để tính. Mời quý vị xem qua giấy ra trại của anh Hảo :



Trong Giấy Ra Trại ghi rõ :
Can tội : Trối trại trốn đi nước ngoài
Bị bắt : 16/1/86. Án phạt : TTGDCT (Tập trung giáo dục cải tạo). Điều đó có nghĩa là muốn giam bao nhiêu tùy thích! Bởi đối với cộng sản Việt nam thì luật là tao, tao là luật! Quý vị có thể cho tôi biết, trên thế giới này, vào những năm cuối của thập niên 80s, còn có quốc gia nào có luật pháp rừng rú như ở Việt Nam cộng sản này không?

Sau khi được phóng thích vào ngày 04/02/1989. Đại Úy Nguyễn Anh Hảo trở về Lộc Sơn sống cùng gia đình được một năm. Chí nam nhi cộng với Trách Nhiệm và Danh Dự với Tổ Quốc của người sĩ quan Quân Lưc Việt Nam Cộng Hòa thôi thúc, đầu năm 1990, anh lại tìm đường trở lại Cambodia tìm những tổ chức kháng chiến võ trang phục quốc. Sau một thời gian dài gạn lọc, chọn lựa. Đến giữa năm 1995, anh tham gia đảng Nhân Dân Hành Động do ông Nguyễn Sỹ Bình khởi xướng. Vì trong tổ chức, đã bị tình báo của cộng sản cài vào, cho nên ngày 17/07/1997, anh bị bắt ở cửa khẩu Mộc Bài – Tây Ninh, khi nhận nhiệm vụ xâm nhập về Việt Nam hoạt động. Sau khi bị bắt, anh bị đưa về nhốt ở trại giam B34 – Bộ Công An, rồi sau đó lại chuyển qua Chí Hòa. Sau khi ra tòa, anh bị giải về thi hành án tại trại giam Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Mời quý vị xem qua Giấy Chứng Nhận Phạm Nhân Chấp hành Xong Án Phạt Tù của anh :



Khi hỏi anh có kỷ niệm nào đáng nhớ trong thời gian anh bị nhốt tại Chí Hòa không ? Anh cười mà kể rằng : Trong thời gian bị nhốt ở Chí Hòa, anh bị nhốt chung với một “tên” cướp xuyên Đông Dương tên Lắm. Với cách nhốt như thế này, mục đích của công an là muốn sữ dụng giang hồ để trấn áp anh. Khi ở chung với nhau, thì “tên” cướp này đã bị anh thu phục bằng lòng nhân ái và vị tha theo lời dạy của Đức Jê-Su. Sau khi đã thân và coi nhau như anh em, “tên” Lắm có một lần bộc trực nói : ‘ Anh ngu thấy mẹ ! Với cái lý lịch như anh sao không vượt biện cho xong. Anh mà vượt biên thì dễ không chứ có khó khăn gì ! Bây giờ thì rung đùi uống bia ở Mỹ rồi, ở lại làm đéo gì để ở tù cho khổ cái thân !”. Anh cười mà hỏi rằng : ‘ Thế vì sao chú mày đi ăn cướp”. Lắm trả lời : “ Thì quá tức đi mà làm liều thôi chứ sao ! Tụi Đỏ nó áp bức mình quá ai mà chịu nổi. Em đi ăn cướp cũng do cái chế độ mất dạy này nó dồn em vào con đường cùng, đéo còn đất sống, chứ em có muốn trộm cướp gì đâu!”. Anh Hảo lại hỏi: “Thế tại sao chú mày không chọn mấy gia đình Đỏ mà cướp, lại đi cướp cả người dân vô tội?”. Lắm tự nhiên : “ Cũng có chứ, nhưng khi nào thấy chắc ăn mới cướp. Bọn Đỏ thằng nào mà chẵng có súng !”. Anh Hảo cười và ôn tồn bảo : “Vậy chú mày có muốn xóa bỏ cái chế độ Cộng Sản này không? Nếu nghĩ như như chú mày, anh không về đây ngồi tù thì đến bao giờ chế độ Cộng Sản này nói sụp đổ được? Sau này chú mày sẽ hiểu được việc của anh làm”. Khi nghe anh giải thích một cách hết sức đơn giản như thế xong, Lắm đã đứng lên rồi từ từ quỳ xuống lạy anh một lạy. Và từ đó, câu nói ấy được “tên” cướp xuyên Đông Dương truyền từ phòng này đến phòng khác cho anh em giang hồ trong trại Chí Hòa cùng gặm nhấm. Sau này, khi bị chuyển về giam tại trại giam Z30A. Một sự trùng hợp là Lắm cũng bị đưa về đây. Khi ra lao động, tình cờ nhìn thấy anh Hảo. Lắm lại một lần nữa cũng quỳ xuống lạy anh một lạy và kêu to : “ Đại Úy!”.



Sau hơn 22 năm tù đày qua nhiều lao tù Cộng Sản. Đại Úy Nguyễn Anh Hảo đã trở thành một lão ông với một thể xác tiều tụy với nhiều bệnh tật do bị đọa đày trong các lao tù của chế độ nhà tù của CSVN với ngần ấy năm trời đã khiến cho thân tàn lực kiệt. Nhưng tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của người sỹ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nào vẫn hiện rõ qua đôi mắt tinh anh và nét mặt cương nghị của anh. Khi tâm tình với chúng tôi cũng như khi chia sẻ với thính giả đài Á Châu Tự Do qua cuộc trả lời phóng vấn với biên tập viên Gia Minh, người lính già ấy vẫn khẳng định rằng tinh thần của anh hiện vẫn như một chàng trai trẻ của độ tuổi 20.



Trong chuyến đến thăm anh chỉ sau một ngày anh vừa ra khỏi nhà tù nhỏ Z30A đó, tiếp chúng tôi tại tư gia số 60, đường Trần Phú, khu phố 4, phường Lộc sơn, thị xã Bảo Lộc, Cựu Đại Úy Nguyễn Anh Hảo đã bày tỏ sự xúc động khi biết còn có những người anh em luôn nhớ đến anh. Anh vui mừng khi nghe chúng tôi kể cho nghe về các Phong Trào Dân Chủ đang lớn mạnh như thế nào trong những năm gần đây. Con đường của các anh đã được thế hệ sau tiếp bước theo một phương thức mới. Chúng tôi nói cho anh về những loại vũ khí mới. Đó là : Tình Yêu Tổ Quốc, Chí Kiên Cường + Điện Thoại + Computer + Internet và Ngòi Bút. Những vũ khí không gây sát thương cho ai mà lại có sức công phá mãnh liệt, phù hợp với trào lưu Dân Chủ Hóa toàn cầu đầy nhân bản, và xu hướng vươn tới sự thánh thiện, giải phóng con người thoát khỏi chủ thuyết phi nhân Cộng Sản.

Qua thời gian ba năm trong tù, trong đó gần một năm may mắn được sống chung với những tiền bối khả kính trong các phong trào vũ trang trước đây như các anh Nguyễn Anh Hảo, Lê Văn Tính, Nguyễn Văn Trại, Trần Văn Thiêng, Đổ Văn Thái, Nguyễn Hữu Cầu, Đổ Thanh Nhàn, Phạm Xuân Thân, Nguyễn Thanh Vân, v.v…; và với những anh em trong những phong trào Dân Chủ như Phạm Bá Hải, Trần Quốc Hiền, Trương Quốc Huy, Nguyễn Bắc Truyễn, Lê Nguyên Sang, Trương Minh Đức v.v…tôi dám nói rằng, chính sách dùng cực hình để đè bẹp ý chí đấu tranh đối với những người con chân chính của Mẹ Việt Nam của Cộng Sản đã phá sản. Khi trong tim mang nặng một tình yêu chân chính, cao đẹp và trong sáng, thì người ta sẵn sàng chết cho Tình Yêu ấy ! Đó là một sự thật. Mong những người Cộng Sản hôm nay hãy nhìn thẳng vào sự thật này để chọn cho mình một vị trí thích hợp. Qua lịch sử hàng ngàn năm phát triển xã hội Nhân Loại đã chứng minh : Ác không bao giờ thắng được Thiện.

Đại Úy Nguyễn Anh Hảo ơi, trong lịch sử giữ nước của dân tộc đã có những Đấng Tiên Liệt

“Thờ Chúa, Chúa lo, lo với Chúa
Giữ thành, thành mất, mất theo thành”

… Và trong những ngày 30 tháng Tư mất nước đó cũng đã có những Niên Trưởng của anh đã vị quốc vong thân và sau này cùng với anh cũng đã có những người cùng chiến tuyến cũng vì vận nước nỗi trôi, vì dân tộc điêu linh mà cũng đã dấn thân và rồi cũng như anh, họ đã bị rơi vào vòng lao lý, chịu cảnh tù ngục đọa đày mà đã ngót phần ba thế kỷ rồi chưa từng một lần biết đến công lý, tự do, dân chủ là gì… chính vì điều này mà ngày trở lại quê nhà của anh, dù được sống trong cảnh phu phụ đoàn viên, nhưng niềm vui đó của anh cũng đâu có được trọn vẹn, chúng tôi đọc được nhưng uẩn niềm này qua ánh mắt anh và qua những tiếng thở dài… Vâng, thưa anh, thưa Đại Úy, chúng ta làm sao có được niềm vui khi gần như cả dân tộc này với gần 90 triệu dân đang khổ nhục, đang lầm than đang sống lưu vong trên chính tổ quốc của mình…

Xin được chia sẻ nỗi niềm này với anh, với người lính già của QLVNCH, với người tù vừa thoát khỏi ngục tù nhỏ để trở về với ngục tù lớn để chia sẻ nỗi hờn vong quốc với triệu triệu đồng bào….

Xin các tiền bối hãy vững tin nơi lớp trẻ. Chúng em quyết tiếp bước quý tiền bối trên con đường nhân ái giải phóng con người.


Nguyễn Ngọc Quang
Đồng Nai Ngày 22/06/2010

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh


Cộng sản lấy Nhân dân làm công cụ


Vào những ngày đầu, sau khi xâm chiếm được miền Nam thì họ đã thi nhau vơ vét mọi tài nguyên thu tóm về miền Bắc, họ tịch thu hết tài sản của thành phần nầy đến thành phần nọ, ngoài ra còn ép người ta “ hiến tặng” nhà, đất cho cách mạng… làm cho người ta sợ mà phải bỏ nước ra đi. Thưở ấy họ cho rằng những người thuyền nhân vượt biển đi tìm tự do là những thành phần đĩ điếm, ngụy quân, nguỵ quyền chạy theo Mỹ để kiếm bơ thừa sữa cặn. Ấy thế mà sau một thời gian bọn cầm quyền Hà nội ngửi thấy mùi đô la trong thành phần này, con bò sữa mỗi năm đem về cho CSVN khoảng 7-8 tỷ đô la nên bọn họ liền trở giọng gọi là

“ khúc ruột ngàn dặm”, là “ Việt kiều yêu nước”…

Đại Nghĩa sưu tầm

Cộng sản lấy Nhân dân làm công cụ

Đảng Cộng sản Việt nam lấy danh nghĩa là của giai cấp vô sản chuyên chính là khi còn phôi thai, họ lợi dụng giai cấp công nhân, nông dân nghèo là để dể dàng thu dụng họ tham gia phong trào đấu tranh giai cấp. Nhưng khi thành công rồi thì họ liền quay lưng lại với giai cấp mà họ đã từng lợi dụng để đi đến thành công. Công nhân cho đến ngày nay vẫn không có được một công đoàn độc lập nhằm bảo vệ cho quyền lợi cho họ mà chỉ có công đoàn quốc doanh lo bảo vệ quyền lợi của giới chủ nhân tư bản nước ngoài và cả chủ nhân tư bản đỏ và hoạt động theo lệnh của đảng CSVN mà thôi. Qua sự việc trên, bác sĩ Nguyễn đan Quế, người từng ngồi tù vì đấu tranh đòi tự do dân chủ đã nói lên nhận định của mình trong bài viết:“ Nông thôn vùng dậy”như sau:

“ Trong chiến tranh, lợi dụng những chiêu bài như: chính quyền của giai cấp vô sản, nông dân, công nhân là lực lượng tiên phong của đảng…đảng đã bắt nông dân, công nhân chịu đựng gian khổ, hy sinh xương máu nhiều nhất. Trong hòa bình họ lại một lần nữa bị hy sinh và chịu thiệt thòi hơn cả.” ( Đối thoại online ngày 28-1-2008 )

Trong bất cứ công việc làm nào người cộng sản cũng đều cần đến sự hợp tác của nhân dân vì họ biết nhân dân là lực lượng nồng cốt mà họ dể “ lãnh đạo” và sai khiến do đó ông HCM nghĩ ra câu châm ngôn chủ trương:

“Dễ trăm lần không dân cũng chiụ, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Hồi năm 1945, phong trào Việt minh cần vàng, ông Hồ cho phát động chiến dịch “ Tuần lễ vàng” cái thì nhân dân đã ùng ùng mang vàng đem đi nạp, và thành công ngoài sự mong đợi của “ bác”.

“ Chỉ trong vòng bảy ngày,Việt Minh lập ra Tuần Lễ Vàng, diễn ra từ 16 tới 22 tháng 9-1945, kêu gọi dân đóng góp vàng, từ nhẩn đeo tay, hoa tay, vòng xuyến… mà không có vàng thì đóng tiền mặt cũng không sao.“ Chiến dịch” này không ngờ thành công vĩ đại: Việt Minh thu được hơn 800 pounds vàng và 20 triệu bạc.” ( Người Việt ngày 10-6-2010 )

Lúc còn chiến tranh, cộng sản lợi dụng lòng ái quốc của nhân dân, nào là nhờ nhân dân làm tai mắt lấy tin tức địch về báo cáo lại, nào là nhờ nhân dân bảo bọc dấu đút chỉ hầm hố cho trốn khi có địch đi càn, nào là nhờ bà má này má nọ cho ăn cho uống, thuốc men khi bệnh hoạn…Cái gì nhất nhất cũng nhờ nhân dân, ấy thế mà khi thành công họ liền trở mặt. Hành động phản bội này được ông Hoàng Tùng, một cán bộ cộng sản cao cấp kể về “ Bí mật HCM”:

“ Nguyễn thị Năm tức là Cát thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở cục chính trị của Văn tiến Dũng. Gia đình bà trong dịp Tuần lễ Vàng có hiến 100 lượng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội Phụ nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng quốc Việt, Lê đức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà…Chọn địa chủ Nguyễn thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung quốc…” ( Đàn chim Việt ngày 4-7-2010 )

Qua câu chuyện của bà Năm cho ta thấy được bản chất phản bội, ăn cơm đập nồi, ăn cháo đá bát của bọn người cộng sản. Bà Năm là người phụ nữ đầu tiên “được hưởng phát súng” đền ơn đáp nghĩa của đảng cộng CSVN trong chiến dịch CCRĐ một cách lạnh lùng mà chính ông Hồ cũng tai ngơ mắt lấp!

Vào những ngày đầu, sau khi xâm chiếm được miền Nam thì họ đã thi nhau vơ vét mọi tài nguyên thu tóm về miền Bắc, họ tịch thu hết tài sản của thành phần nầy đến thành phần nọ, ngoài ra còn ép người ta “ hiến tặng” nhà, đất cho cách mạng… làm cho người ta sợ mà phải bỏ nước ra đi. Thưở ấy họ cho rằng những người thuyền nhân vượt biển đi tìm tự do là những thành phần đĩ điếm, ngụy quân, nguỵ quyền chạy theo Mỹ để kiếm bơ thừa sữa cặn. Ấy thế mà sau một thời gian bọn cầm quyền Hà nội ngửi thấy mùi đô la trong thành phần này, con bò sữa mỗi năm đem về cho CSVN khoảng 7-8 tỷ đô la nên bọn họ liền trở giọng gọi là

“ khúc ruột ngàn dặm”, là “ Việt kiều yêu nước”…

Đảng cộng sản thường lợi dụng nhân dân qua các tổ chức: Thanh niên xung phong, nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động, lực lượng dân công, phong trào thuỷ lợi… đấy là một sự khai thác công sức của nhân dân mà thường không có một sự đền công xứng đáng. Ngoài ra họ còn tổ chức các đoàn thể chánh trị mượn danh nhân dân như giáo sư Lữ Phương nhận định:

“ Quốc hội nằm trong hệ thống chuyên chính vô sản , là công cụ của đảng mà thôi. Nhà nước là công cụ, Quốc hội là công cụ, các đoàn thể quần chúng, báo chí cũng là công cụ, nằm ở dưới sự chỉ đạo chuyên chính của đảng.”

( Việt tide số 31 ngày 15-2-2002 )

Trong các chiến dịch“ dân công”, họ bắt nhân dân cả nam lẫn nữ vận chuyễn vũ khí, đạn dược hoặc lương thực của hậu cần cũng như đưa thương bệnh binh từ chiến trường về hậu trạm… Ngoài ra chánh quyền cộng sản còn bắt hàng trăm ngàn, hàng triệu nhân dân lao động đi làm công tác thuỷ lợi hoặc làm Đường mòn Hồ chí Minh nơi đèo heo hút gío đầy sơn lam chướng khí và nhiều cạm bẩy chông mìn nguy hiểm. Thanh niên là một bộ phận nhân dân trẻ đầy nghị lực và đầy nhiệt huyết mà họ có thể lợi dụng để đưa vào những nơi hiểm nguy nhiều sinh tử một cách không thương tiếc. Họ thường hô hào, kích động bằng những khẩu hiệu nghe đầy phấn khởi:

“Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Họ lập ra không biết bao nhiêu là cơ quan mang nhản hiệu “ Nhân dân”, nào là:

Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Hội đồng Nhân dân, Ủy Ban Nhân dân, Tòa án Nhân dân…nhưng tiền thì là Ngân hàng Nhà nước.

Hai tổ chức vũ trang nồng cốt bảo vệ đảng là Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân là công cụ có lời thề “ Trung với đảng” và chống lại Nhân dân qua các vụ đàn áp Dân oan khiếu kiện vì bị đảng ăn cướp đất đai. Đàn áp các tín đồ tôn giáo như vụ Tòa Khâm sứ ở Hà nội, nhà thờ ở Thái Hà, Thánh gía ở Đồng Chiêm, hay mới đây nhất vụ cưỡng chiếm đất đai ở Nghi sơn, Thanh hóa công an Nhân dân đã bắn chết Nhân dân:

“ Kể từ ngày 25 tháng 5 vừa rồi tới nay, khi người dân Nghi sơn, Thanh hóa trải qua cảnh công an đánh đập cả phụ nữ, trẻ con, người bị tật nguyền, nhất là bắn chết hai nạn nhân và làm bị thương nhiều người khác…” ( RFA online ngày 10-6-2010)

Tổ chức lấy danh nghĩa là công an Nhân dân mà vì đảng bắn dân, vì thân phục vụ. Trên báo Tổ quốc, mục Diễn đàn Tự do Ngôn luận nhân ngày sinh của HCM có bài: “ Công an Nhân dân: Vì đảng quên dân, vì thân phục vụ”, mở đầu bài:

“ Mấy hôm nay dân mạng trong và ngoài nước chuyền nhau bức hình tấm panô treo trước cửa của trụ sở Bộ Công an CSVN tại 44 Yết Kiêu, Hà nội. Tấm panô này có hàng chữ rất…kêu và rất phản động:“ Công an Nhân dân: Chỉ biết còn đảng còn mình” ( Tổ Quốc online ngày 19-5-2010 )

Đấy, công an Nhân dân thì là thế còn Tòa án Nhân dân thì sao? Nhân dân chỉ để làm công cụ “ giơ tay” trong các cuộc đấu tố thời CCRĐ hoặc đấu tố những người bất đồng chính kiến hiện đang đấu tranh vì Dân chủ Tự do trong nước. Trong các phiên tòa nhiều khi Nhân dân hưởng ứng lời kích động của cán bộ một cách điên cuồng giết chết nhiều mạng người một cách oan uổn.

Đảng cộng sản sử dụng nhân dân như một công cụ rẻ tiền và xem dân như cỏ rác, ấy thế mà ông Hồ chí Minh lại nói:

“ Tôi chỉ là người đầy tớ trung thành của nhân dân”?

Ô hô! ai cũng biết ông đày tớ này ra sao rồi, cả thế giới có ai còn lạ gì ông đày tớ của Nhân dân Việt nam được gọi là: Bác Hồ. Ngoài người đày tớ số một này còn khoản ba triệu đày tớ con cháu nữa làm tám chục triệu ông bà chủ ( Nhân dân) muốn ná thở luôn. Hể mở miệng ra thì họ nói:

“ Cán bộ là người lãnh đạo, người đày tớ thực sự trung thành của nhân dân và phải luôn luôn xứng đáng là người công bộc của dân”?

- hoặc:“Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”?!

Đầy tớ của Nhân dân thật ư? Đây xin mời quí vị xem lại báo Tiền Phong online của cộng sản kể trong mục Thời sự- Xã hội bài“ Cán bộ xã ở biệt thự, đi xe hơi xịn” để xem thân phận chủ tớ ra sao:

“ Cả thôn Phú hạ có khoảng 400 hộ dân thì có đến 170 hộ nghèo và cận nghèo. Năm 2005, thu nhập bình quân đầu người của Minh phú chỉ đạt 2, 5 triệu đồng.

“ Thế nhưng cán bộ ở đây có mức sống nổi bật. Ông Nguyễn văn Phố, nguyên chủ tịch xã( bị cách chức do liên quan đến vụ án bán rừng Sóc sơn mới đây), năm 2005 xây đến 3 căn nhà nguy nga. Bản thân ông ngày đêm giao du, nhậu nhẹt trên một chiếc xe Toyota Zace.

“ Ông chủ tịch đương nhiệm Dương ngọc Oanh thì “ ngự” tại một villa tuyệt đẹp, có hồ sen, sân vườn, garage ô tô. Hàng ngày, ông Oanh cưỡi chiếc Mazda 3 cáu cạnh( biển số 29U-0901) đi làm.” ( Tiền Phong online ngày 18-3-2006 )

Vì bức xúc trước một sự lợi dụng và luận điệu tuyên truyền lừa phỉnh của đảng CSVN mà mới đây trong bức thư của tiến sỹ luật sư Trần đình Triển gửi cho ông Tô huy Rứa về việc ông này có ra lệnh cấm báo chí nói đến vụ bê bối của tên chủ tịch tỉnh Hà giang Nguyễn trường Tô, ông Triển chua chát nhắc lại:

“Đường lối chính sách của đảng, sách giáo khoa giảng dạy trong Học viện chính trị Quốc gia đều khẳng định nguyên tắc:“ Nhà nước của ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân”, “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “phát triển nền kinh tế trí thức, nâng cao dân trí, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân”, “ lấy dân làm gốc”. ( Người Việt ngày 1`7-7-2010 )

Mới nghe người ta tưởng rằng người dân nước CHXHCNVN rất có quyền chớ có ai ngờ đâu đó chỉ là luận điệu tuyên truyền lừa phỉnh. Có biết bao vụ việc như chuyện đưa nước Việt nam tiến lên XHCN, mấy cái hiệp định biên giới Việt- Trung năm 1999 và hiệp định về biển Vịnh Bắc bộ năm 2000… dân có biết gì đâu mà bàn với kiểm tra! Còn vụ khai thác bauxite ở Tây nguyên tới chừng dân biết, dân bàn thì thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cương quyết tiến hành mặc dù đã được không biết bao nhiêu vị khai quốc công thần và những nhà trí thức chuyên gia lão thành ngăn cản cũng không được, ngoài ra còn hàng trăm ngàn vụ mà dân chưa được biết thì có đâu mà bàn hay kiểm tra.

Ở Việt nam ai cũng biết luật đất đai là sở hữu của toàn dân, thế mà dân ở hay canh tác gì có được yên đâu, ngay cả mồ mã ông bà chôn đã mấy đời rồi mà hể đầy tớ cần thì họ cứ “ giải phóng mặt bằng” thôi. Ông bà chủ nào ra cản đản thì công an nhân dân bắn cho vở sọ. Nếu có oan ức thì lo cơm ghe bè bạn đi tới nơi nào có “ Văn phòng tiếp dân” mà thưa kiện. Mấy ông bà chủ đất cũng đã từng khăn gói từ các tỉnh trong Nam ra, trước ghé Văn phòng tiếp dân nộp mấy trăm ngàn tờ đơn khiếu kiện sau “ thăm lăng bác”. Ấy thế mà phải ăn chực nằm chờ nơi vườn hoa Mai xuân Thưởng nhiều tháng trời, bọn dày tớ chẳng những đã không tiếp còn cho công an Nhân dân đuổi như đuổi tà. Linh mục Phan văn Lợi ở Huế thấy cảnh này cũng ngán ngẳm:

“ Tưởng còn trống kêu oan, tưởng còn đèn trời soi xét, mấy ngàn nông dân và thị dân tay trắng đã kéo đến tận nơi mang danh là “ cơ quan quyền lực cao nhất nước: xin gặp những kẻ gọi là“ đại biểu nhân dân”vốn luôn ngoác mồm tự xưng là “ của dân, do dân, vì dân” không chút ngượng miệng”. (Đối thoại online ngày 28-7-2007 )

Như thế chúng ta đã thấy rõ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân Dân là công cụ !


Đại Nghĩa sưu tầm

Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm
Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ
Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh




Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi. Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.
Nhà cầm quyền cộng sản, hơn lúc nào hết, luôn buộc người dân lo nghĩ đến chuyện miếng ăn, cái mặc. Cái bụng lúc nào cũng phải cảm thấy còn đoi đói, chưa no. Và người dân thì thiếu thốn nhu yếu phẩm, lo chạy gạo từng bữa. Ðủ hôm nay thì thiếu ngày mai, hay được nồi cơm sáng, thì lại chưa có nồi cơm chiều. Cuộc đời cứ quần quật lo đói rách như thế, thì xin hỏi, còn chi thì giờ mà nhân dân nghĩ đến tranh đấu, hoặc đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền?
Cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh từng dạy: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường. Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi”.
"The religion of the future will be a cosmic religion. The religion which is based on experience, which refuses dogmatism. If there's any religion that would cope with modern scientific needs it will be Buddhism." Albert Einstein

Tôn giáo trong tương lai sẽ là tôn giáo của vũ trụ. Tôn giáo này dựa trên kinh nghiệm và không chấp nhận chủ nghĩa giáo điều. Nếu có một tôn giáo nào tương thích với khoa học hiện đại, đó chính là Phật Giáo.

Bạn Ơi Hãy Cùng Nhau Đấu Tranh Cho Cuộc Sống Của Mình & Tương Lai Của Con Cháu Mình !!!



Nhân Dân Cần Nhận Diện Bộ Mặt Thật Của Giới Cầm Quyền. Phải Hành Động Cụ Thể Đối Với Bọn Chúng !!!



Chỉ Mặt, Nhận Diện Bọn Cán Bộ Óc Đất, Lũ Công An Lưu Manh, Đám Quan Chức Tham Nhũng, Tay Sai !!!

Công Nhân Bị Đánh Đập Tàn Nhẫn, Dã Man !!!


Followers